Trang chủ / Uncategorized / Bộ Tư pháp trả lời một số vướng mắc lĩnh vực hộ tịch

Bộ Tư pháp trả lời một số vướng mắc lĩnh vực hộ tịch

Trangtinphapluat.com xin trích một số nội dung trong bản tổng hợp giải trình của Bộ Tư pháp  trả lời kiến nghị của đại biểu các Bộ, ngành, cơ quan Tư pháp địa phương tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2016 liên quan đến lĩnh vực hộ tịch  để bạn đọc tham khảo.

1. Việc giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh: Luật hộ tịch không có quy định cụ thể về thời gian được coi là quá thời hạn xác minh (Đồng chí Trịnh Tất Thắng, Công chức Tư pháp – Hộ tịch phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).

Trả lời:                                          

Đối với từng thủ tục có yêu cầu xác minh, Luật hộ tịch đã quy định rõ thời hạn xác minh hoặc thời hạn giải quyết được kéo dài thêm trong trường hợp phải tiến hành xác minh.

Một số thủ tục cơ quan đăng ký hộ tịch phải trao đổi với cơ quan có liên quan để xác minh (như thủ tục đăng ký lại khai sinh, thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã qua nhiều nơi cư trú …), Nghị định số 123/2015/NĐ-CP đã quy định rõ thời hạn gửi văn bản xác minh và thời hạn trả lời yêu cầu phối hợp xác minh.

Do mỗi trường hợp khác nhau, cơ quan cần trao đổi xác minh là khác nhau, nên pháp luật không thể quy định rõ tổng thời hạn giải quyết mà chỉ quy định thời hạn giải quyết của từng khâu. Trong bộ thủ tục hành chính (công bố theo Quyết định số 299/QĐ-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), thời hạn giải quyết các thủ tục này đều ghi rõ là không tính thời gian gửi văn bản xác minh và kết quả xác minh qua hệ thống bưu chính. Cơ quan đăng ký hộ tịch cần chủ động căn cứ vào thời gian (trung bình) gửi/nhận văn bản qua hệ thống bưu chính để tính thời điểm quá thời hạn xác minh.

  1. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân: Bộ đã có Công văn số 788/HTQTCT-HT hướng dẫn việc cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, tuy nhiên, việc thực hiện sẽ kéo dài thời gian, công dân phải chờ đợi. Luật hộ tịch chưa có quy định về việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã chết, trong khi trên thực tế có rất nhiều yêu cầu (Đồng chí Trịnh Tất Thắng, Công chức Tư pháp – Hộ tịch phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).

Trả lời:

  1. a) Tình trạng hôn nhân là thông tin quan trọng, có thể gây hệ quả pháp lý nghiêm trọng nếu được xác nhận không đúng. Dữ liệu này có tính biến động, thậm chí có thể thay đổi ngay sau khi cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, do đó cần được kiểm tra, cập nhật kịp thời.

Để bảo đảm quyền lợi cho những người có liên quan (người dự định kết hôn, người có giao dịch về tài sản với người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân), trường hợp đề nghị cấp lại mà không xuất trình được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sử dụng vào mục đích kết hôn được cấp trước đây, cơ quan đăng ký hộ tịch cần phải tiến hành kiểm tra, xác minh kỹ, do đó thời gian giải quyết thủ tục hành chính phải kéo dài (bao gồm thời gian gửi/nhận văn bản xác minh và thời gian chuyển văn bản qua hệ thống bưu chính) là phù hợp. Cơ quan đăng ký hộ tịch cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến để người dân trên địa bàn nắm bắt, hiểu và thực hiện đúng quy định.

  1. b) Về việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã chết

Luật hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành không quy định về việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người chết. Theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 15/2015/TT-BTP, thì người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Do đó, đối với yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã chết, Ủy ban nhân dân cấp xã không tiếp nhận, giải quyết.

  1. Trên thực tế, có nhiều trường hợp người vợ có con với người khác trong thời kỳ hôn nhân. Vào thời điểm Tòa án xét xử ly hôn, cháu bé chưa được khai sinh, do vậy Tòa án không đề cập đến vấn đề cha mẹ của trẻ em này, nên khi người mẹ đi đăng ký khai sinh cho con gặp khó khăn trong việc khai sinh cho con ngoài giá thú hoặc nhận cha thực sự cho người con gặp vướng mắc, khó giải quyết. Đề nghị Bộ có hướng dẫn cụ thể hơn (Đồng chí Trịnh Tất Thắng, Công chức Tư pháp – Hộ tịch phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).

Trả lời:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp người cha không thừa nhận con hoặc người mẹ khẳng định không phải là con của người chồng thì phải được Tòa án xác định thông qua thủ tục tố tụng.

Trường hợp Tòa án không thụ lý, giải quyết hoặc đình chỉ việc giải quyết do không có tranh chấp thì để bảo đảm quyền lợi của trẻ em, tránh tình trạng trẻ không được đăng ký khai sinh, đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ theo diện con chưa xác định được cha theo quy định tại Điều 15 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP (trong hồ sơ phải có văn bản thể hiện việc từ chối giải quyết của Tòa án có thẩm quyền; kết quả giám định ADN xác định người chồng không phải là cha đẻ). Nếu người cha thực tế có yêu cầu nhận con thì kết hợp giải quyết đăng ký khai sinh và nhận con theo quy định tại Điều 12 của Thông tư số 15/2015/TT-BTP (trong hồ sơ phải có văn bản thể hiện việc từ chối giải quyết của Tòa án có thẩm quyền; kết quả giám định ADN xác định mối quan hệ cha – con).

  1. Trường hợp người chết là người lang thang trên địa bàn và không tìm được thông tin của người chết thì việc khai tử được thực hiện như thế nào (Đồng chí Trịnh Tất Thắng, Công chức Tư pháp – Hộ tịch phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hộ tịch thì: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử.

Tuy nhiên, đối với trường hợp người chết không có thông tin, không có cá nhân/cơ quan/tổ chức nào có liên quan thực hiện việc đăng ký khai tử thì UBND cấp xã nơi phát hiện người chết phối hợp với các cơ quan có liên quan lập biên bản về việc có người chết tại địa bàn để có thông tin thực hiện việc thống kê, không thực hiện việc đăng ký khai tử.

  1. Khoản 1 Điều 46 Luật hộ tịch chỉ quy định về thẩm quyền cải chính hộ tịch cho người nước ngoài tại Việt Nam, không quy định về thẩm quyền thay đổi thông tin hộ tịch (Đồng chí Trịnh Tất Thắng, Công chức Tư pháp – Hộ tịch phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).

Trả lời:

Điều 26 Luật hộ tịch quy định phạm vi thay đổi hộ tịch bao gồm: Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự; thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

Đối với người nước ngoài, việc thay đổi họ, chữ đệm, tên, thay đổi thông tin về cha, mẹ của họ sẽ theo quy định pháp luật nước ngoài, không theo quy định pháp luật của Việt Nam nên cơ quan đăng ký hộ tịch của Việt Nam không thể thực hiện thủ tục thay đổi hộ tịch cho họ. Do vậy, khoản 1 Điều 46 Luật hộ tịch quy định: “Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của người nước ngoài có thẩm quyền giải quyết việc cải chính, bổ sung hộ tịch đối với người nước ngoài đã đăng ký hộ tịch tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam”.

  1. Theo quy định tại Thông tư số 15/2015/TT-BTP, một số biểu mẫu không đủ các nội dung (như tờ khai đề nghị cấp bản sao trích lục khai sinh bản sao không có ngày sinh), dẫn đến việc cấp bản sao cho người khai sinh trước ngày 01/01/2016 gặp khó khăn; nội dung mẫu Tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân mâu thuẫn với chú thích nội dung gây khó khăn cho việc hướng dẫn công dân (Đồng chí Trịnh Tất Thắng, Công chức Tư pháp – Hộ tịch phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).

Hiện nay tờ khai đăng ký khai sinh, Giấy khai sinh và sổ hộ tịch không thống nhất thông tin về phần thông tin về người cha và thông tin về người mẹ, theo tờ khai thì thông tin về người cha trước rồi đến thông tin về người mẹ, tuy nhiên, tại sổ hộ tịch và giấy khai sinh thì thông tin của mẹ trước rồi mới đến thông tin về cha dẫn đến việc công chức Tư pháp Hộ tịch thường xuyên bị nhầm lẫn khi viết giấy khai sinh và sổ hộ tịch, đề nghị điều chỉnh lại trình tự thông tin phiếu mẫu hộ tịch cho phù hợp và thống nhất (Phòng Tư pháp huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Trả lời:

Về bất cập trong một số biểu mẫu giấy tờ hộ tịch, Sổ hộ tịch và Tờ khai, Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp, nghiên cứu chỉnh lý. Đối với một số biểu mẫu có vướng mắc về cách ghi khiến công chức làm công tác hộ tịch gặp lúng túng,  trong thời gian tới Bộ Tư pháp sẽ có văn bản hướng dẫn.

  1. Việc sử dụng sổ hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch: Theo quy định tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư số 15/2015/TT-BTP, sổ hộ tịch chỉ sử dụng trong năm và không sử dụng để đăng ký cho năm tiếp theo, quy định này gây lãng phí, đề nghị điều chỉnh theo hướng sử dụng hết quyển rồi mới chuyển sang quyển mới như quy định cũ (Phòng Tư pháp huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Trả lời:

– Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Thông tư số 15/2015/TT-BTP thì ngoài Giấy khai sinh và Giấy chứng nhận kết hôn, Bộ Tư pháp chỉ in, phát hành 03 loại sổ hộ tịch: Sổ đăng ký khai sinh, Sổ đăng ký kết hôn, Sổ đăng ký khai tử và cũng thiết kế thành 2 loại có số trang khác nhau (200 trang và 100 trang)  Đây là 03 loại việc hộ tịch có tỉ lệ đăng ký nhiều nhất trong số các việc hộ tịch nói chung, do vậy, về cơ bản, 01 quyển sổ đăng ký sẽ được dùng hết, ở những địa bàn đông dân cư còn phải sử dụng tiếp sang quyển thứ 2, thứ 3.

Các đơn vị có quá ít trường hợp đăng ký hộ tịch trong năm, Bộ Tư pháp sẽ đề nghị các Sở Tư pháp tổng hợp, lập danh sách để xem xét, có chỉ đạo cụ thể.

– Đối với các loại sổ hộ tịch khác (Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP), cơ quan đăng ký hộ tịch được tự in, sử dụng. Căn cứ vào số lượng từng loại việc trên địa bàn địa phương đã được đăng ký trong năm trước, cơ quan đăng ký hộ tịch in các loại sổ hộ tịch với số trang phù hợp.

  1. Điểm b Điều 73 Luật hộ tịch quy định công chức làm công tác hộ tịch chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp xã và pháp luật về việc đăng ký hộ tịch thì việc xác minh hồ sơ, ký tên vào trong sổ hộ tịch, nhưng áp dụng mẫu mới thì bản chính các giấy tờ hộ tịch không có mục người thực hiện ký tên, đề nghị bổ sung theo như mẫu cũ (Phòng Tư pháp huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 Luật hộ tịch thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch trên địa bàn địa phương mình; công chức làm công tác hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện đăng ký kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực; cập nhật đầy đủ các sự kiện hộ tịch đã được đăng ký vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Do vậy, trong biểu mẫu các giấy tờ hộ tịch, chỉ thiết kế mục “Người ký Giấy khai sinh”, “Người ký Giấy chứng nhận kết hôn”… để xác định thẩm quyền cấp và giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch. Công chức làm công tác hộ tịch chỉ thực hiện ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên trong Sổ đăng ký hộ tịch.

  1. Theo quy định của Luật hộ tịch, trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ em đồng thời cấp bản sao Trích lục thì công dân phải khai 2 loại tờ khai là tờ khai đăng ký khai sinh và tờ khai trích lục hộ tịch, quy định này phức tạp hơn so với quy định trước đây, do đó, công chức Tư pháp – Hộ tịch phải cấp vào 2 loại sổ gây mất thời gian và mất công sức cho công chức Tư pháp – Hộ tịch (Phòng Tư pháp huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Trả lời:

Nếu người đi đăng ký hộ tịch có yêu cầu cấp Trích lục bản sao cùng thời điểm đăng ký hộ tịch thì đề nghị cơ quan đăng ký hộ tịch không lập thành hồ sơ riêng, nhưng việc cấp bản sao Trích lục vẫn ghi vào Sổ cấp bản sao trích lục hộ tịch và thu lệ phí theo quy định. Cấp bản sao Trích lục hộ tịch cũng là một loại việc hộ tịch cần phải thống kê, việc ghi nội dung vào Sổ cấp bản sao trích lục phục vụ cho công tác quản lý, là cơ sở thu lệ phí và thống kê số liệu đăng ký hộ tịch đúng, chính xác.

  1. Trong trường hợp còn bản chính giấy tờ hộ tịch, nhưng sổ hộ tịch không có thông tin hoặc sổ hộ tịch đã mất, khi áp dụng Luật hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành thì không thể tiến hành thay đổi, cải chính vì không có sổ hộ tịch để ghi chú phần thay đổi theo quy định. Mặt khác, theo khoản 1 Điều 24 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền Việt Nam trước ngày 01/01/2016, nhưng sổ hộ tịch và bản chính của giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại, đối chiếu với quy định của Luật thì quy định trên của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP cũng không đủ điều kiện để đăng ký lại (Phòng Tư pháp huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Trả lời:

– Về điều kiện đăng ký lại các việc hộ tịch: Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại. Như vậy, việc đăng ký lại chỉ được thực hiện trong trường hợp cả sổ hộ tịch và giấy tờ hộ tịch đều bị mất, trường hợp vẫn còn sổ hoặc còn bản chính giấy tờ hộ tịch thì không thực hiện việc đăng ký lại; công dân có nhu cầu được cấp bản sao thì có thể yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch cấp bản sao từ sổ hộ tịch hoặc chứng thực bản sao từ bản chính.

– Về giải quyết yêu cầu cải chính hộ tịch trong trường hợp sổ hộ tịch đã bị mất, chỉ còn bản chính giấy tờ hộ tịch:

Trong trường hợp này, cơ quan đăng ký hộ tịch vẫn tiếp nhận, giải quyết yêu cầu cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật hộ tịch; nội dung cải chính được ghi vào Sổ đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc và được ghi chú vào mặt sau của bản chính giấy tờ hộ tịch.

  1. Trong một số trường hợp đăng ký hộ tịch, Thông tư hướng dẫn cũng chưa quy định cụ thể, như việc đăng ký lại khai sinh cho người đã có hồ sơ, giấy tờ, nhưng trong giấy tờ đó không thể hiện ngày, tháng sinh mà chỉ có năm sinh thì giải quyết như thế nào? Và một số vướng mắc khác, hiện tại Bộ Tư pháp đang hướng dẫn các địa phương thực hiện bằng văn bản hành chính trong một số trường hợp là chưa phù hợp, đề nghị Bộ tổng hợp các vướng mắc của địa phương, ban hành Thông tư để hướng dẫn áp dụng thống nhất, ổn định trên phạm vi toàn quốc (Phòng Tư pháp huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Trả lời:

– Sự kiện hộ tịch thực tế rất đa dạng, phức tạp, luôn phát sinh tình tiết mới, nên pháp luật hộ tịch chưa thể dự liệu hết các vấn đề để quy định chi tiết, hướng dẫn. Trường hợp có vấn đề vướng mắc thường xuyên phát sinh hoặc phát sinh tại nhiều địa bàn trong thực tế, Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp để có văn bản quy định hướng dẫn bổ sung.

– Về việc đăng ký lại khai sinh cho người đã có hồ sơ, giấy tờ nhưng trong giấy tờ không thể hiện được ngày, tháng sinh thì đề nghị cơ quan đăng ký hộ tịch vận dụng quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 và quy định tại khoản 2 Điều 22 Thông tư số 15/2015/TT-BTP để xác định ngày, tháng sinh khi đăng ký lại khai sinh, theo hướng: Nếu không xác định được ngày sinh thì ghi ngày đầu tiên của tháng sinh. Nếu không xác định được ngày, tháng sinh thì ghi ngày 01 tháng 01 của năm sinh.

  1. Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài khi đăng ký hộ tịch tại Việt Nam thì ghi quốc tịch trong giấy tờ hộ tịch thực hiện theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP, hiện nay, UBND cấp huyện không có thẩm quyền đăng ký và quản lý quốc tịch, dẫn đến việc công chức hộ tịch dễ sơ suất khi đăng ký hộ tịch, đề nghị Thông tư của Bộ Tư pháp hướng dẫn dẫn chiếu để áp dụng (Phòng Tư pháp huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Trả lời:

Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản quy định chi tiết thi hành đã được Bộ Tư pháp quán triệt, tập huấn trong toàn Ngành Tư pháp. Đồng thời Phòng Tư pháp, công chức làm công tác hộ tịch các cấp cần chủ động nghiên cứu để nắm vững các quy định về quốc tịch. Trường hợp có vướng mắc thì chủ động trao đổi, xin ý kiến hướng dẫn của cơ quan Tư pháp cấp trên.

Hiện tại, Bộ Tư pháp cũng đang chuẩn bị tiến hành tổng kết để đề xuất sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008. Đề nghị cơ quan Tư pháp các cấp tổng hợp các vướng mắc thực tế liên quan đến lĩnh vực quốc tịch, phản ánh về Bộ Tư pháp để Bộ nghiên cứu, tổng hợp, đề xuất đưa vào nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung.

Ru bi tổng hợp

Quảng cáo: thay doi giay phep kinh doanh, thanh lap doanh nghiep

Blog của Nguyễn Quốc Sử

Blog chia sẻ thông tin pháp luật – Tư vấn pháp luật – Quảng cáo trực tuyến.
Liên hệ: kesitinh355@gmail.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *