loading...
Trang chủ / BÀI VIẾT HAY / Bản tin pháp luật / Các văn bản pháp luật được ban hành từ ngày 19-27/12/2015

Các văn bản pháp luật được ban hành từ ngày 19-27/12/2015

văn bản luật mới

Từ ngày 19-27/12/2015, Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, Ngành trung ương đã thông qua nhiều văn bản Luật và ban hành các Nghị định, Quyết định, Thông tư, trangtinphapluat.com trân trọng giới thiệu như sau:

loading...

 

  1. Quốc hội thông qua Luật an toàn thông tin mạng

  Sáng ngày 19/11, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật An toàn thông tin mạng với 85,83% số đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016.

Luật An toàn thông tin mạng gồm 8 Chương, 54 Điều quy định về hoạt động an toàn thông tin mạng; quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm an toàn thông tin mạng; mật mã dân sự; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thông tin mạng; kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng; phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin mạng; quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng.

Cụ thể, Luật quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin mạng. Hoạt động an toàn thông tin mạng của cơ quan, tổ chức, cá nhân phải đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, bí mật nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Tổ chức, cá nhân không được xâm phạm an toàn thông tin mạng của tổ chức, cá nhân khác.

Việc xử lý sự cố an toàn thông tin mạng phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, không xâm phạm đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân, thông tin riêng của tổ chức.

Nhà nước bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng; khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, nghiên cứu, phát triển và cung cấp sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng.

  1. Quốc hội thông qua Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND

Sáng 20-11, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, với 83,2% đại biểu tán thành.

Theo Luật quy định, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát như sau: Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát của chủ thể giám sát; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình, trừ thông tin thuộc bí mật nhà nước mà theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước chủ thể giám sát đó không thuộc diện được tiếp cận; báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giám sát; nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân; thực hiện kết luận, kiến nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm gửi văn bản quy phạm pháp luật mà mình đã ban hành đến Ủy ban thường vụ Quốc hội, đồng thời gửi đến Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có liên quan chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký văn bản.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gửi nghị quyết mà mình đã ban hành đến Ủy ban thường vụ Quốc hội chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký văn bản.

Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Hội đồng nhân dân cấp huyện) có trách nhiệm gửi nghị quyết mà mình đã ban hành đến Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký văn bản; Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Hội đồng nhân dân cấp xã) có trách nhiệm gửi nghị quyết mà mình đã ban hành đến Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký văn bản.

Ủy ban nhân dân có trách nhiệm gửi quyết định mà mình đã ban hành đến Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký văn bản. Đối với quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Đoàn đại biểu Quốc hội chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký văn bản.

Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát có trách nhiệm trực tiếp báo cáo, trình bày những vấn đề mà chủ thể giám sát yêu cầu; trường hợp không thể trực tiếp báo cáo, trình bày được thì ủy quyền cho cấp phó của mình.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị, yêu cầu của chủ thể giám sát thì chủ thể giám sát yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và người có liên quan.

Theo Luật này, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát là được thông báo trước về kế hoạch, nội dung giám sát, nội dung được yêu cầu báo cáo, trả lời về vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát; Giải trình, bảo vệ tính đúng đắn trong việc thực hiện chính sách, pháp luật thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình liên quan đến nghị quyết, kết luận, kiến nghị của chủ thể giám sát; Đề nghị chủ thể giám sát xem xét lại yêu cầu, kết luận, kiến nghị giám sát liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; trong trường hợp không tán thành với yêu cầu, kết luận, kiến nghị giám sát thì tự mình hoặc báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để đề nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, kết luận về các yêu cầu, kết luận, kiến nghị đó.

  1. Quốc hội thông qua Luật Kế toán (sửa đổi)

Chiều 20-11, với 391 đại biểu tán thành, chiếm 79,155 tổng số đại biểu tham gia biểu quyết, Quốc hội đã thông qua Luật Kế toán (sửa đổi).

Luật Kế toán (sửa đổi) được Quốc hội thông qua gồm 6 Chương, 74 Điều, quy định về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm kế toán, hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán, quản lý nhà nước về kế toán và tổ chức nghề nghiệp về kế toán.

Theo quy định của Luật, Chứng từ điện tử được coi là chứng từ kế toán khi có các nội dung quy định về nội dung chứng từ kế toán của Luật này và được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử, được mã hóa mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán. Chứng từ điện tử phải bảo đảm tính bảo mật và bảo toàn dữ liệu, thông tin trong quá trình sử dụng và lưu trữ; phải được quản lý, kiểm tra chống các hình thức lợi dụng khai thác, xâm nhập, sao chép, đánh cắp hoặc sử dụng chứng từ điện tử không đúng quy định. Chứng từ điện tử được quản lý như tài liệu kế toán ở dạng nguyên bản mà nó được tạo ra, gửi đi hoặc nhận nhưng phải có đủ thiết bị phù hợp để sử dụng.

Trường hợp khi chứng từ bằng giấy được chuyển thành chứng từ điện tử để giao dịch, thanh toán hoặc ngược lại thì chứng từ điện tử có giá trị để thực hiện nghiệp vụ kinh tế, tài chính đó, chứng từ bằng giấy chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi và kiểm tra, không có hiệu lực để giao dịch, thanh toán.

Luật Kế toán có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2017.

  1. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật Khí tượng, thủy văn

Ngày 23/11/2015, các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua dự thảo Luật Khí tượng, Thủy văn với 83% đại biểu tán thành. Dự thảo luật có 10 chương, 57 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016.

Luật quy định về hoạt động khí tượng thủy văn gồm: Quản lý, khai thác mạng lưới trạm; dự báo, cảnh báo; thông tin, dữ liệu; phục vụ, dịch vụ khí tượng thủy văn; giám sát biến đổi khí hậu; tác động vào thời tiết; và quản lý nhà nước; quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khí tượng thủy văn.

Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài; tổ chức quốc tế tham gia hoạt động khí tượng thủy văn trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

  1. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật Thống kê (sửa đổi)

Ngày 23/11/2015, với 416 đại biểu tán thành (tỷ lệ 84,21%), Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Thống kê (sửa đổi). Luật gồm 9 chương 72 điều  và 01 phụ lục Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia (tăng 1 chương, 30 điều so với Luật năm 2003 gồm 8 chương, 42 điều). Luật này quy định về hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê nhà nước; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê nhà nước; tổ chức thống kê nhà nước và hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê ngoài thống kê nhà nước.

  1. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)

Ngày 24/11/2015, với đa số đại biểu tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi). Bộ luật Dân sự sửa đổi có hiệu lực từ 01/01/2017, thay thế Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11.

Bộ luật Dân sự (sửa đổi) được thông qua đã có nhiều quy định mới quan trọng, trong đó, cá nhân có quyền xác định lại giới tính. Cụ thể, về chuyển đổi giới tính, trên cơ sở phương án dự thảo do Chính phủ trình và kết quả lấy phiếu xin ý kiến đại biểu Quốc hội, Bộ luật quy định rõ: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”.

Bộ Luật Dân sự sửa đổi lần này cũng quy định rõ về lãi suất theo thỏa thuận. Theo đó, trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

  1. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi)

Với đa số phiếu thuận (438/442 đại biểu Quốc hội có mặt, đạt tỷ lệ 88,66% tổng số đại biểu Quốc hội), sáng 25/11/2015, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) gồm 42 chương, 517 điều có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016,trừ các quy định cụ thể hóa các quy định mới có liên quan của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. Sau khi Luật này được thông qua, Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Điểm đáng chú ý trong Bộ luật này là quy định Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Đây là một trong những điểm mới quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, phù hợp với quy định của Hiến pháp 2013, khắc phục một số bất cập trong thực tiễn xét xử các vụ án dân sự hiện nay.

  1. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi)

Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi) được Quốc hội thông qua sáng 25/11/2015 với 448/450 đại biểu Quốc hội có mặt bấm nút thông qua (đạt tỷ lệ 90,69% tổng số đại biểu Quốc hội). Sau khi Luật này được thông qua, Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính.

Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi) gồm có 23 chương với 372 điều và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, trừ các quy định cụ thể hóa các quy định mới có liên quan của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.

 Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi) quy định Tòa án Nhân dân có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện của một số hành vi trong nội bộ tổ chức cơ quan, đơn vị như: Hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc. Tuy quy định Tòa án không can thiệp quá sâu vào hoạt động quản lý, điều hành của nội bộ cơ quan, đơn vị, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền hạn của công dân. Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định chỉnh sửa bổ sung nội dung này theo hướng Tòa án Nhân dân có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đối với người giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng hoặc chức vụ tương đương trở lên.

  1. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Bộ luật Hàng hải (sửa đổi)

Trong phiên làm việc chiều 25/11/2015, với 438 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết (chiếm 88,66% tổng số đại biểu Quốc hội và 433 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (chiếm 87,65%),Quốc hội đã chính thức thông qua Bộ luật Hàng hải Việt Nam (sửa đổi) gồm 20 chương, 434 điều. Bộ luật này sẽ có hiệu lực từ 1/7/2017.

Đối với tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi, cảng quân sự, cảng cá và cảng, bến thủy nội địa chỉ áp dụng trong trường hợp có quy định cụ thể của Bộ luật này. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam với quy định của luật khác về cùng một nội dung liên quan đến hoạt động hàng hải thì áp dụng quy định của Bộ luật này.

Đối với chính sách của Nhà nước về phát triển hàng hải, Bộ luật khẳng định: Nhà nước có chính sách phát triển hàng hải phục vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ tổ quốc; Ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng hàng hải thông qua chính sách ưu tiên trong quy hoạch cảng biển và thu hút nguồn vốn đầu tư xây dựng, khai thác kết cấu hạ tầng hàng hải; Ưu tiên phát triển đội tàu vận tải biển thông qua chính sách ưu đãi về thuế, lãi suất vay vốn trong đầu tư phát triển đội tàu và trong hoạt động vận tải biển. Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực hàng hải; phát triển đội ngũ thuyền viên đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế thông qua các chính sách về đào tạo, huấn luyện thuyền viên; tiêu chuẩn, chế độ lao động của thuyền viên;

Tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh việc tham gia các tổ chức quốc tế về hàng hải, ký kết, gia nhập và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế về hàng hải; Khuyến khích nghiên cứu và chuyển giao các ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại trong lĩnh vực hàng hải; Khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển đội tàu biển, cảng biển, công nghiệp tàu thủy; tham gia cung cấp dịch vụ công ích trong lĩnh vực hàng hải và thực hiện các hoạt động hàng hải khác theo quy định tại Việt Nam.

  1. Quốc hội thông qua Luật tạm giữ tạm giam

Chiều 25/11, với 436 đại biểu tán thành trên tổng số 439 đại biểu tham gia biểu quyết, đạt 88,26%, Quốc hội đã thông qua Luật tạm giữ tạm giam. Đây là văn bản pháp lý bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam; thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với người bị tạm giữ, tạm giam, khắc phục được những khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý tạm giữ, tạm giam hiện hành đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác quản lý tạm giữ, tạm giam thông qua phân loại quản lý người bị tạm giữ, tạm giam.

Luật đảm bảo các quy định mới về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam như: Được bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản, chăm sóc sức khỏe, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ, đồng thời, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có nghĩa vụ chấp hành quyết định, yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành giam giữ; Chấp hành quy định của Luật này và nội quy của cơ sở giam giữ. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.

  1. Quốc hội thông qua Luật trưng cầu ý dân

Có 426 đại biểu tán thành trong tổng số 435 đại biểu tham gia biểu quyết, đạt 86,23% Quốc hội đã thông qua Luật trưng cầu ý dân. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Luật quy định về việc trưng cầu ý dân; nguyên tắc trưng cầu ý dân; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong trưng cầu ý dân; trình tự, thủ tục quyết định việc trưng cầu ý dân và tổ chức trưng cầu ý dân; kết quả và hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân. Luật ra đời nhằm bảo đảm nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội.

  1. Quốc hội thông qua Luật phí và lệ phí

Với đa số tán thành, chiều 25-11, Quốc hội thông qua Luật phí và lệ phí, cho phép thu phí sử dụng lòng đường, hè phố, cho dù trước đó một số đại biểu Quốc hội không đồng tình. Giải trình về vấn đề này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thừa nhận, thực tế, việc quản lý, sử dụng lòng đường, hè phố ở một số đô thị chưa tốt, dẫn đến ách tắc giao thông, mất trật tự an toàn xã hội, nhất là việc quản lý các hộ, cá nhân kinh doanh tại lòng đường, hè phố. Tuy nhiên, việc sử dụng lòng đường, hè phố là nhu cầu thực tế, cần thiết ở các đô thị, không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước trên thế giới và là nguồn thu ngân sách Nhà nướckhá lớn của nhiều đô thị. Mặt khác, việc quy định thu phí đối với lòng đường, hè phố cũng là công cụ góp phần quản lý đô thị, nếu không thu phí lòng đường hè phố sẽ thất thoát nguồn thu của ngân sách Nhà nước. Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho giữ như dự thảo luật. Có ý kiến cho rằng, hiện nay người dân đã nộp thuế cho Nhà nước, do đó đề nghị không phải nộp các khoản phí, lệ phí. Theo quan điểm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thuế là khoản thu bắt buộc mang tính không hoàn trả trực tiếp. Nhà nước sử dụng nguồn thu thuế để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đường sá, cầu, cống…), xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, công trình phúc lợi văn hóa xã hội…) để phục vụ toàn xã hội và trang trải chi phí cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, bảo đảm quốc phòng-an ninh. Trong khi đó, phí và lệ phí cũng là khoản thu thuộc ngân sách Nhà nước nhưng mang tính hoàn trả trực tiếp; các tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ trực tiếp thì mới phải trả phí, lệ phí. Do đó, việc sử dụng nguồn thu từ thuế là khoản thu để phục vụ cho nhu cầu của toàn xã hội để bù đắp chi phí cung cấp dịch vụ cho một số tổ chức, cá nhân là không bảo đảm công bằng với các tổ chức, cá nhân không được sử dụng dịch vụ. Đồng thời, việc phải nộp phí và lệ phí là góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm người dân, tránh việc sử dụng lãng phí các nguồn lực Nhà nước.

  1. Quốc hội đã thông qua Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Sáng 27/11, với 84,01% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Bộ luật Hình sự (sửa đổi) gồm 3 phần, 26 chương và 426 điều. Bộ luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016. Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 và Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật Hình sự (sửa đổi) có hiệu lực.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân và phạm vi trách nhiệm hình sự của pháp nhân là nội dung mới trong lần sửa đổi này. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết việc bổ sung này là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, nhất là đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật về kinh tế và môi trường của pháp nhân, bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật. Kết quả lấy ý kiến nhân dân và lấy ý kiến của đại biểu Quốc hội bằng phiếu cho thấy, đa số đều tán thành việc bổ sung quy định trách nhiệm hình sự và phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân như dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân, trên cơ sở ý kiến nhân dân và đại biểu Quốc hội, qua tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm hành chính và tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước, Điều 76 dự thảo quy định 31 tội danh mà pháp nhân bị xử lý hình sự thuộc Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII) và Chương các tội phạm về môi trường (Chương XIX).

Về bỏ hình phạt tử hình ở một số tội, trên cơ sở kết quả lấy ý kiến nhân dân và ý kiến đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến bỏ hình phạt tử hình ở 9 tội danh để xin ý kiến của Quốc hội. Qua thảo luận, đa số đại biểu Quốc hội cho rằng trong điều kiện hiện nay, việc giảm hình phạt tử hình là cần thiết. Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho bỏ hình phạt tử hình đối với 7 tội danh: Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193) ; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252); Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303); Tội chống mệnh lệnh (Điều 394); Tội đầu hàng địch (Điều 399). Trong số​ các tội danh trên, một số đại biểu Quốc hội không tán thành hoặc đề nghị cân nhắc việc bỏ hình phạt tử hình ở Tội cướp tài sản và Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia.

Về vấn đề này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải trình đối với Tội cướp tài sản, nếu hành vi phạm tội cố ý xâm phạm tính mạng của nạn nhân để chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội bị xử lý về Tội cướp tài sản và Tội giết người (đã có hình phạt tử hình). Đối với Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, trước đây tội danh này thuộc Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Trong lần sửa đổi năm 1999, Quốc hội đã quy định tội danh này thuộc Chương các tội xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng. Nếu không có mục đích chống chính quyền nhân dân thì việc quy định hình phạt tù 20 năm, tù chung thân cũng là nghiêm khắc và đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm.

Trường hợp phạm tội có mục đích chống chính quyền nhân dân thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội phá hoại cơ sở vật chất-kỹ thuật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); nếu nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội khủng bố (Điều 299), các tội danh này thuộc Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia và đều có hình phạt cao nhất là tử hình. Do vậy, không nhất thiết phải giữ hình phạt tử hình ở Điều 168 và Điều 303.

Bộ luật quy định “Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người từ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử” tại khoản 2 Điều 40.

Một điểm mới đáng lưu ý, tại điểm c khoản 3 Điều 40 quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu “Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.”

  1. Quốc hội thông qua bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi)

Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua (chỉ có 2 đại biểu Quốc hội không tán thành) có 37 chương, 510 điều. Cùng với việc thông qua Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) sửa đổi, Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết về việc thi hành BLTTHS (sửa đổi).

Bắt buộc ghi âm, ghi hình nhằm chống bức cung, dùng nhục hình. Việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung nhằm bảo đảm minh bạch quá trình hỏi cung, bảo vệ bị can, chống bức cung, dùng nhục hình, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo yêu cầu của Hiến pháp, đồng thời bảo vệ người hỏi cung, tránh bị vu cáo là cần thiết.

Theo đó, khoản 6 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) quy định: “Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Việc hỏi cung bị can tại các địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can, của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”.

Tuy nhiên, để thực hiện quy định này cần có hướng dẫn và phải có thời gian để đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ cán bộ, Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) quy định:

Giao cho Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục việc thực hiện, sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm, ghi hình việc hỏi cung trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Nội vụ xây dựng đề án về cơ sở vật chất, bộ máy, cán bộ và lộ trình cụ thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung bị can theo quy định của Bộ luật này.

Giao Bộ trưởng Bộ Công an quyết định cụ thể nơi có điều kiện để thực hiện việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung kể từ ngày 1/1/2017. Chậm nhất đến 1/1/2019 thì thực hiện thống nhất việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung bị can trên phạm vi toàn quốc.

  1. Thông qua Luật Quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viên chức quốc phòng

Sáng ngày 26-11, các đại biểu Quốc hội đã nhấn nút thông qua dự thảo Luật Quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viên chức quốc phòng với tỷ lệ đồng ý là 84,82%. Luật gồm bảy chương, 52 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2016.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉnh lý các quy định làm rõ việc xếp loại, nâng loại, chuyển vị trí chức danh của QNCN, CN và VCQP tại ba điều (Điều 15, Điều 29 và Điều 30) phù hợp với pháp luật về lao động và pháp luật về viên chức, đáp ứng yêu cầu thực tiễn tổ chức của quân đội. Theo đó, QNCN được xếp theo trình độ đào tạo và tiêu chuẩn chức danh đảm nhiệm; CNQP xếp loại theo trình độ đào tạo và trình độ kỹ năng nghề, VCQP thì căn cứ vào chức danh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về viên chức.

Cấp bậc quân hàm của QNCN được xác định tương ứng với trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ và mức lương để đáp ứng yêu cầu công tác phục vụ, bảo đảm chỉ huy, quản lý trong quân đội nhân dân. Theo dự thảo Luật Chính phủ trình, hệ thống cấp bậc quân hàm của QNCN quy định từ Thiếu úy đến Thượng tá là kế thừa pháp luật hiện hành, bảo đảm tương quan với sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong Công an nhân dân và đang thực hiện ổn định.

Đối với người có học hàm giáo sư, phó giáo sư, học vị tiến sĩ là QNCN từ trước tới nay Bộ Quốc phòng đã ưu tiên tuyển dụng, bổ sung vào đội ngũ cán bộ quân đội và phong quân hàm theo quy định của Luật sĩ quan. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ như dự thảo Luật Chính phủ trình.

  1. Quốc hội thông qua dự thảo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự

Dự thảo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự bao gồm 10 chương, 73 điều đã được Quốc hội biểu quyết thông qua với đa số phiếu tán thành.

Luật này quy định về nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Điều tra viên và các chức danh khác trong điều tra hình sự; quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát trong hoạt động điều tra hình sự; bảo đảm điều kiện cho hoạt động điều tra hình sự và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Đối tượng áp dụng của luật gồm: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Dự thảo Luật đã bổ sung quy định Cơ quan Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Công an nhân dân, cơ quan Kiểm ngư là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Về trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an (Điều 44 của dự thảo Luật), báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết dự thảo Luật không quy định Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và có thẩm quyền tố tụng mà chỉ quy định trách nhiệm của Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an hỗ trợ hoạt động điều tra.

Trên thực tế, nhiều trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an là cơ quan trực tiếp, đầu tiên tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, bảo vệ hiện trường, phát hiện bắt, tiếp nhận người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã lẩn trốn trên địa bàn và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để thực hiện hoạt động tố tụng.

Dự thảo Luật quy định chỉ giao cho các cơ quan này được tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và thực hiện một số hoạt động hỗ trợ cho điều tra là phù hợp, nhất là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền mà không xử lý tố giác, tin báo về tội phạm nên không phải là hoạt động tư pháp.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016.

Danh mục các Luật tại kỳ họp thứ 10, khóa XIII

STT Tên các Luật Ngày thông qua
1 Luật an toàn thông tin mạng 19/11/2015
2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. 20/11/2015
3 Luật kế toán (sửa đổi). 20/11/2015
4 Luật thống kê (sửa đổi). 23/11/2015
5 Luật khí tượng, thủy văn. 23/11/2015
6 Bộ luật dân sự (sửa đổi). 24/11/2015
7 Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi). 25/11/2015
8 Luật tố tụng hành chính (sửa đổi). 25/11/2015
9 Bộ luật hình sự (sửa đổi). 27/11/2015
10 Luật tạm giữ, tạm giam. 25/11/2015
11 Bộ luật hàng hải Việt Nam (sửa đổi). 25/11/2015
12 Luật phí, lệ phí. 25/11/2015
13 Luật trưng cầu ý dân. 25/11/2015
14 Luật quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viên chức quốc phòng. 26/11/2015
15 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự. 26/11/2015
16 Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi). 27/11/2015

 

  1. Phong tỏa tài khoản đối tượng bị thanh tra khi có dấu hiệu tẩu tán tài sản

          Theo Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-TTCP-NHNN, ngày 25/11/2015 của Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về hướng dẫn việc phong tỏa tài khoản của đối tượng thanh tra do Tổng Thanh tra Chính phủ – Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thì: Người có thẩm quyền yêu cầu phong tỏa tài khoản là trưởng đoàn thanh tra hành chính, trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành; người ra quyết định thanh tra hành chính, người ra quyết định thanh tra chuyên ngành. Việc phong tỏa tài khoản được thực hiện khi đối tượng thanh tra có dấu hiệu tẩu tán tài sản hoặc không thực hiện đúng yêu cầu về việc giao nộp tiền, tài sản theo quyết định thu hồi tiền, tài sản của cơ quan thanh tra nhà nước hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện kết luận thanh tra.

          18. Thống kê, đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra

          Theo Thông tư liên tịch 43/2015/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT hướng dẫn thống kê, đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành, thì thiệt hại hoàn toàn là những vật chất bị mất trắng hoặc bị phá hủy, hư hỏng trên 70% không thể khôi phục lại.

Thiệt hại rất nặng là những vật chất bị giảm năng suất hoặc bị phá hủy, hư hỏng từ 50-70%. Thiệt hại nặng là những vật chất bị giảm năng suất hoặc bị phá hủy, hư hỏng từ 30-50%. Thiệt hại một phần là những vật chất bị giảm năng suất hoặc bị hư hỏng dưới 30%.

Theo Thông tư, việc thống kê, đánh giá thiệt hại phải được thực hiện phù hợp với thực tế, đáp ứng việc chỉ đạo, điều hành, ứng phó với thiên tai. Việc lập báo cáo thống kê thiệt hại phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền. Đảm bảo tính khách quan, công khai, minh bạch, phản ánh sát thực tế về mức độ thiệt hại do thiên tai gây ra.

Chỉ tiêu thống kê, đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra bao gồm: Thiệt hại về người gồm người chết, mất tích, bị thương và số hộ, số người bị ảnh hưởng trực tiếp; về nhà ở bao gồm nhà ở kiên cố, bán kiên cố, thiếu kiên cố và nhà đơn sơ;  về giáo dục gồm những cơ sở vật chất của trường học, các thiết bị giáo dục; về y tế gồm những số cơ sở y tế, thuốc, vật tư, trang thiết bị y tế; về chăn nuôi gồm những gia súc, gia cầm, vật nuôi khác, chuồng trại, trang thiết bị, vật tư chăn nuôi…

Thông tư cũng quy định rõ về các loại báo cáo thống kê đánh giá thiệt hại. Theo đó, báo cáo nhanh được lập ngay sau khi thiên tai xảy ra. Thời gian báo cáo, thực hiện trước 24 giờ tính từ khi xảy ra thiên tai và được báo cáo hàng ngày cho đến khi kết thúc đợt thiên tai.

Báo cáo tổng hợp đợt thiên tai được thực hiện khi kết thúc thống kê, đánh giá thiệt hại, kết thúc đợt thiên tai, áp dụng đối với những loại hình thiên tai xuất hiện trong nhiều ngày hoặc loại thiên tai gây thiệt hại lớn phải thống kê, đánh giá trong thời gian dài.

Báo cáo đột xuất, trong trường hợp cần có báo cáo thống kê để thực hiện các yêu cầu công việc về quản lý nhà nước, cơ quan yêu cầu báo cáo phải có văn bản nêu rõ mục đích, thời gian và nội dung cần báo cáo.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 30/12/2015.

  1. Quyết định 1724/QĐ-LĐTBXH năm 2015 công bố thủ tục hành chính về lĩnh vực Phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

  1. Thông tư liên tịch 16/2015/TTLT-BTP-BQP sửa đổi Thông tư liên tịch 04/2013/TTLT-BTP-BQP hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự do Bộ trưởng Bộ Tư pháp – Bộ Quốc phòng ban hành

loading...

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Blog chia sẻ thông tin pháp luật - Tư vấn pháp luật - Quảng cáo trực tuyến. Liên hệ: kesitinh355@gmail.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *