Trang chủ / BÀI VIẾT HAY / Tư pháp / Bộ Tư pháp trả lời các kiến nghị liên quan đến lĩnh vực Tư pháp năm 2015

Bộ Tư pháp trả lời các kiến nghị liên quan đến lĩnh vực Tư pháp năm 2015

 

  1. LĨNH VỰC XÂY DỰNG, THẨM ĐỊNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ CÔNG TÁC PHÁP CHẾ
  2. Hiện nay Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (mới) đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, để đảm bảo tính khả thi của Luật, đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu để triển khai, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật nhằm kịp thời, khắc phục độ vênh giữa các chế định được quy định trong Luật với các văn bản khác có liên quan (tránh tình trạng Luật có hiệu lực pháp lý nhưng chưa có Nghị định quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành). Đồng thời, khi xây dựng Nghị định có thể quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành luôn mà có thể không cần phải ban hành Thông tư, Thông tư liên tịch của cấp Bộ, ngành. Hạn chế việc quy định cho Hội đồng nhân dân hoặc Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thể chế hóa Thông tư, Thông tư liên tịch.

Đề nghị Bộ Tư pháp tổ chức hội nghị chuyên đề, tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu để triển khai Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (UBND tỉnh, thành phố Đà Nẵng, Hải Dương, Sơn La, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn).

Trả lời:

– Về triển khai, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật ban hành văn bản QPPL

+ Sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội thông qua, Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1573/QĐ-TTg ngày 11/9/2015 ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở Quyết định nêu trên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 1785/QĐ-BTP ngày 07/10/2015 ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp. Ở địa phương, hiện đã có trên 40 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật.

+ Theo Quyết định số 1573/ QĐ-TTg, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì xây dựng Nghị định quy định chi tiết Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và trình Chính phủ trong quý I/2016. Để hạn chế việc ban hành nhiều nghị định quy định chi tiết Luật, Bộ Tư pháp đã đề xuất và được Chính phủ đồng ý chỉ ban hành 01 nghị định quy định chi tiết. Hiện nay, dự thảo Nghị định đã được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Với việc tuân thủ tinh thần của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 là không ủy quyền tiếp việc ban hành văn bản quy định chi tiết, do đó, một trong các quan điểm chỉ đạo xây dựng nghị định là quy định cụ thể đến mức cao nhất các điều, khoản mà Luật giao để khi nghị định được ban hành thì thi hành được ngay, không cần thông tư hướng dẫn tiếp của các bộ, cũng như văn bản hướng dẫn của địa phương. Nội dung dự thảo Nghị định quy định chi tiết 7 điều, khoản giao Chính phủ quy định chi tiết [1] và dự kiến quy định một số biện pháp thực sự cần thiết thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ để bảo đảm thi hành có hiệu quả Luật như: trình tự tiến hành thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; cách thức lấy ý kiến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo, Tổ biên tập….

 – Về vấn đề tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu để triển khai Luật ban hành văn  bản quy phạm pháp luật

Theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật thì trong quý II năm 2016, Bộ Tư pháp sẽ tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về Luật cho các công chức làm công tác xây dựng, thẩm định chính sách; soạn thảo, thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung tập huấn tập trung vào một số vấn đề như: quy trình xây dựng chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; theo dõi, đánh giá việc ban hành văn bản quy định chi tiết; đánh giá tác động chính sách; soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá thủ tục hành chính; đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới; nghiệp vụ kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật cho công chức làm công tác xây dựng pháp luật.

  1. Bộ Tư pháp với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về công tác pháp chế, đề nghị cần có kiến nghị với các Bộ, ngành trong việc lấy ý kiến góp ý văn bản QPPL, chỉ nên lấy ý kiến bộ, ngành đối với các văn bản liên quan đến lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ, ngành đó… (Đài Truyền hình Việt Nam).

Trả lời:

Nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động xây dựng pháp luật, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 đã bổ sung nhiều quy định về lấy ý kiến trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật so với Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996. Theo đó, việc tổ chức lấy ý kiến là thủ tục bắt buộc mà cơ quan chủ trì soạn thảo phải thực hiện trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đối với hình thức lấy ý kiến rộng rãi của Nhân dân và mọi cơ quan, tổ chức, Luật yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo phải đăng tải dự thảo văn bản trên Cổng thông tin điện tử để lấy ý kiến. Còn đối với hình thức gửi công văn để lấy ý kiến bằng văn bản, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 quy định chỉ lấy ý kiến đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan về dự án, dự thảo (khoản 4 Điều 33) mục đích là tránh dàn trải và bảo bảm chất lượng lấy ý kiến. Thực tiễn thi hành Luật năm 2008 cũng cho thấy thời gian qua, các Bộ, ngành khi tổ chức lấy ý kiến đối với dự thảo các văn bản cũng đã tập trung lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành có liên quan đến dự thảo văn bản đó. Chất lượng lấy ý kiến ngày càng được nâng cao. Để kế thừa và phát huy quy định này, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 cũng đã quy định rõ, thể hiện tính minh bạch hơn trong quá trình lấy ý kiến. Để triển khai Luật ban hành văn bản QPPL, Bộ Tư pháp đang tập trung xây dựng Nghị định hướng dẫn, trong đó có hướng dẫn về vấn đề lấy ý kiến văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở ý kiến của Quý cơ quan, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu kỹ vấn đề này để có quy định cho phù hợp.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp đề xuất Chính phủ sớm sửa đổi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay tại các địa phương, đảm bảo công tác pháp chế được thực hiện tại các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi chưa thể thành lập được phòng pháp chế, theo hướng giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh căn cứ vào nhu cầu công tác pháp chế quyết định việc thành lập tổ chức pháp chế hoặc quyết định việc bố trí người làm công tác pháp chế chuyên trách tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. Phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn về tiêu chuẩn của người làm công tác pháp chế (UBND tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Hiện tại, số lượng cán bộ, công chức của Vụ Pháp chế – Bộ Công Thương và một số doanh nghiệp chưa có văn bằng luật chiếm số lượng nhất định, tuy nhiên, khi xây dựng cơ chế, chính sách, cán bộ pháp chế không chỉ cần các kỹ năng pháp chế mà bên cạnh đó rất cần các kiến thức chuyên môn của các lĩnh vực đó. Vì vậy, đề nghị Bộ Tư pháp khi xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cần có cơ chế công nhận các cán bộ, công chức đã có kinh nghiệm, thời gian tham gia công tác pháp chế nhất định tương đương với cán bộ, công chức có trình độ cử nhân luật để thuận lợi cho nhiệm vụ công tác của các tổ chức pháp chế (Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn).

Trả lời:

Sau hơn 04 năm triển khai thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, công tác pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương đã từng bước đi vào nền nếp, tổ chức pháp chế được thành lập, củng cố và kiện toàn một bước; chất lượng nguồn nhân lực làm công tác pháp chế đã được nâng lên, góp phần quan trọng trong việc tăng cường pháp chế XHCN. Bên cạnh đó, công tác pháp chế cũng còn có một số khó khăn, hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, nhất là hiện nay Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng.

Thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2015 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu xây dựng kế hoạch, tiến hành khảo sát, đánh giá việc thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và đã tổ chức lấy ý kiến chính thức của Bộ, ngành, địa phương đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung.

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP có quy định nhiều vấn đề, trong đó có quy định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc bố trí, sắp xếp người làm công tác pháp chế trong tổng số biên chế được giao; sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế cho phù hợp với các văn bản QPPL hiện hành; sửa đổi tiêu chuẩn người làm công tác pháp chế và người đứng đầu tổ chức pháp chế theo hướng linh hoạt hơn, đảm bảo tính khả thi nhằm khắc phục hạn chế, bất cập hiện nay, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn (nội dung này xuất phát từ thực trạng cán bộ tham gia công tác pháp chế chưa có bằng cử nhân luật như kiến nghị của Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)…

Tuy nhiên, qua quá trình tổng hợp ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, địa phương thấy rằng, vẫn còn có ý kiến khác nhau lớn đối với những nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung. Do đó, để có thời gian nghiên cứu thêm về mặt lý luận, thực tiễn, đảm bảo tính khả thi sau khi Nghị định sửa đổi, bổ sung được ban hành, Bộ Tư pháp đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin lùi thời gian trình Chính phủ đối với dự thảo Nghị định sang tháng 11/2016.

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, tham mưu, sớm trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP với các nội dung quan trọng như đã nêu trên.

  1. Theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được tổ chức phòng pháp chế. Tuy nhiên, thực tế ban hành các thông tư liên tịch về cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh giữa các Bộ chuyên ngành và Bộ Nội vụ lại không có quy định về phòng pháp chế, dẫn đến nguy cơ phải xóa bỏ các phòng pháp chế hiện có, gây xáo trộn trong cơ cấu tổ chức và ảnh hưởng tới việc xử lý công việc tại các cơ quan chuyên môn ở địa phương. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan chuyên ngành báo cáo các cấp có thẩm quyền để thống nhất quan điểm và có văn bản hướng dẫn việc thực hiện cho các địa phương để thống nhất việc thành lập, sáp nhập hoặc kiện toàn Phòng Pháp chế.

Đồng thời, đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng phương án rà soát và kiện toàn tổ chức bộ máy và nhân lực làm công tác pháp chế theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, nhất là tổ chức pháp chế các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND tỉnh Khánh Hòa, Cần Thơ, Bộ Công thương, Bộ Lao động Thương binh – Xã hội)

Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn về tổ chức, bộ máy, biên chế làm công tác pháp chế (UBND tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu với Chính phủ để ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ công chức phụ trách công tác pháp chế theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 12 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, đưa ra các quy định về biên chế, tiêu chuẩn, kinh phí, phụ cấp… đối với cán bộ làm công tác pháp chế phải đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn (UBND tỉnh Hải Dương, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương).

Do đặc thù của công tác pháp chế là khối lượng công việc lớn, tính chất đa dạng, phức tạp, nhiều công việc đột xuất, đòi hỏi có đủ số lượng công chức có trình độ, năng lực, do đó đề nghị Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ quan tâm đến việc chỉ đạo tăng biên chế công chức làm pháp chế, chỉ đạo đảm bảo nguồn lực và ngân sách cho công tác pháp chế (Thanh tra Chính phủ).

Trả lời:

– Về tổ chức, bộ máy và biên chế làm công tác pháp chế:

+ Ngay sau khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực, Bộ Tư pháp đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan trong việc xây dựng dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn về tổ chức bộ máy, biên chế của tổ chức pháp chế và tiêu chuẩn của người làm công tác pháp chế. Bộ Tư pháp cũng đã nhiều lần xin ý kiến Bộ Nội vụ về dự thảo Thông tư liên tịch, đến nay vẫn chưa ban hành được Thông tư liên tịch.

Để triển khai thống nhất công tác pháp chế tại địa phương, trong thời gian qua, Bộ Tư pháp có nhiều biện pháp, trong đó, Bộ đã phối hợp với Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và có văn bản số 526/BTP-VĐCXDPL ngày 14/02/2015 gửi Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc áp dụng văn bản pháp luật đối với việc thành lập Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Công văn số 526/BTP-VĐCXDPL nói trên đã yêu cầu Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với Sở Nội vụ, tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục quan tâm duy trì và tạo điều kiện thuận lợi cho các Phòng Pháp chế đã được thành lập tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu quả; tiếp tục kiện toàn các tổ chức pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh theo đúng quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; rà soát, sắp xếp, bố trí biên chế, công chức thực hiện công tác pháp chế trong tổng số biên chế công chức của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với chức năng và bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP (theo điểm c khoản 1 Điều 8 của Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV).

+ Thời gian qua, Bộ Nội vụ đã ban hành hoặc liên tịch với các Bộ ban hành một số Thông tư, Thông tư liên tịch quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Sở thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó không có quy định về Phòng Pháp chế trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Thực trạng đó đã gây ra khó khăn, lúng túng cho các địa phương trong việc củng cố, kiện toàn tổ chức Phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.

Trước tình hình nêu trên, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ, ngành và một số địa phương nghiên cứu, đề ra nhiều giải pháp tháo gỡ  khó khăn, vướng mắc; báo cáo kịp thời Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tại nhiều phiên họp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo triển khai đồng bộ, đề ra nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác pháp chế, triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Ngày 08/4/2015, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì cuộc họp giữa Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ với các Bộ, ngành có liên quan về tình hình tổ chức và hoạt động của các Phòng Pháp chế tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trên cơ sở kết quả cuộc họp, ngày 17/7/2015, Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 5592/VPCP-TCCV thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức và hoạt động của Phòng Pháp chế tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí hợp lý biên chế công chức làm công tác pháp chế tại các Sở trong tổng biên chế được giao, bảo đảm số lượng và chất lượng, phù hợp với yêu cầu công tác của từng Sở và địa phương.

Để đảm bảo cho các tổ chức pháp chế ở cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ổn định hoạt động, phát huy vai trò của mình trong việc tham mưu cho lãnh đạo cơ quan các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý của cơ quan chuyên môn, hiện nay, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đang chỉ đạo để có văn bản gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc thực hiện công tác pháp chế theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP theo hướng giữ nguyên và tiếp tục kiện toàn phòng pháp chế ở những nơi đã thành lập cùng với việc tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về bố trí biên chế công chức làm công tác pháp chế ở những nơi chưa thành lập.

– Về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ công chức phụ trách công tác pháp chế

Thực hiện Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP (ban hành kèm theo Quyết định số 1477/QĐ-BTP ngày 23/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ nghiên cứu, xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp theo nghề đối với người làm công tác pháp chế. Trên cơ sở ý kiến thống nhất của đa số các Bộ, ngành, ngày 06/12/2011, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với người làm công tác pháp chế (Tờ trình số 42/TTr-BTP), sau đó, tại các Phiên họp của Chính phủ về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đã nhiều lần kiến nghị về vấn đề này.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, ngày 27/5/2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020. Thực hiện Kết luận số 63-KL/TW, Chính phủ chỉ đạo nghiên cứu việc ban hành chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề sẽ được xử lý trong Đề án cải cách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp.

 Trong điều kiện chưa có quy định cụ thể về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với người làm công tác pháp chế, để khuyến khích, động viên đội ngũ những người làm công tác pháp chế ở Bộ, ngành, địa phương, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành đưa ra nhiều giải pháp, theo đó đã ban hành một số VBQPPL quy định mới, điều chỉnh tăng mức kinh phí chi cho một số hoạt động liên quan đến công tác pháp chế về việc quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước như: lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác hợp nhất VBQPPL và pháp điển hệ thống văn bản QPPL (Thông tư liên tịch số 192/2013/TTLT-BTC-BTP ngày 13/12/2013); hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng VBQPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật (Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 14/7/2014); bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế (Thông tư số 129/2013/TT-BTC ngày 18/9/2013)…

Bên cạnh đó, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định “Nhà nước có chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ quy định tại Luật này; hiện đại hóa phương tiện, hạ tầng kỹ thuật; bảo đảm kinh phí cho hoạt động xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và ban hành văn bản quy phạm pháp luật”. Để triển khai thi hành Luật năm 2015, hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Nghị định quy định chi tiết Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, trong đó có nhiều nội dung quan trọng liên quan đến vấn đề bảo đảm nguồn lực trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo văn bản nêu trên đã được đăng tải, xin ý kiến góp ý của Bộ, ngành, địa phương.

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cũng sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền đề ra các giải pháp nhằm giải quyết các khó khăn, vướng mắc về nguồn nhân lực, về vấn đề kinh phí bảo đảm cho các hoạt động của công tác pháp chế, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác pháp chế của các Bộ, ngành, địa phương.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế (đặc biệt là cán bộ làm công tác pháp chế tại các cơ quan thuộc Chính phủ) chú trọng một số lĩnh vực mới triển khai thực hiện hoặc có nhiều khó khăn, vướng mắc như công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về hợp đồng…. Tổ chức các đoàn khảo sát, học tập kinh nghiệm của nước ngoài về xây dựng pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành, trên cơ sở đó tạo điều kiện để các cán bộ làm công tác pháp chế nắm rõ hơn thực tế thi hành pháp luật nhằm tăng cường hiệu quả xây dựng các chính sách pháp luật phù hợp.

Đổi mới nội dung và phương pháp tập huấn, bám sát với yêu cầu thực tiễn; biên soạn tài liệu, sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ và bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ báo cáo viên có kinh nghiệm để phục vụ cho việc hướng dẫn, tập huấn đội ngũ làm công tác pháp chế trong toàn quốc.

Tổ chức các buổi tọa đàm, hội nghị chuyên đề, chia sẻ kinh nghiệm, mô hình, cách làm mới, hiệu quả trong công tác pháp chế để các cơ quan, đơn vị, tổ chức học tập và áp dụng (UBND tỉnh Bạc Liêu, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Công thương, Bảo Hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Bộ Y tế, Đài Truyền hình Việt Nam,       Ủy ban Dân tộc).

Đề nghị Bộ Tư pháp xây dựng chương trình đào tạo về pháp luật và bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế cho cán bộ làm công tác pháp chế theo quy định (Bảo Hiểm xã hội Việt Nam).

Trả lời:

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ người làm công tác pháp chế luôn được Bộ Tư pháp xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ người làm công tác pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương. Từ năm 2011 đến nay, Bộ Tư pháp đã tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho trên 9.000 lượt cán bộ, công chức tư pháp, pháp luật cả trung ương và địa phương. Đồng thời, Bộ đã đổi mới nội dung, phương pháp tập huấn chuyên sâu với nhiều hình thức, biên soạn nhiều tài liệu, cuốn sổ tay, cẩm nang về công tác pháp chế cho đội ngũ người làm công tác pháp chế ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ở các tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh với nhiều nội dung quan trọng như: kỹ năng xây dựng, góp ý, thẩm định, kiểm tra, rà soát VBQPPL, hợp nhất, pháp điển VBQPPL, xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến, giáo dục pháp luật…

Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác pháp chế, hàng năm, Bộ Tư pháp cũng đã tổ chức trên 10 cuộc Hội nghị chuyên đề, hội thảo, tọa đàm để người làm công tác pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước có cơ hội được giao lưu, trao đổi kinh nghiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Đồng thời, để triển khai một số luật, bộ luật quan trọng được Quốc hội thông qua, trong đó có Luật hộ tịch, Luật ban hành VBQPPL năm 2015… Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị quán triệt nội dung của các luật, bộ luật ở 3 miền Bắc, Trung, Nam…

Bên cạnh đó, thực hiện Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho cho doanh nghiệp, hàng năm, Bộ Tư pháp tổ chức trung bình trên 10 lớp bồi dưỡng, tập huấn với nhiều nội dung thiết thực như bồi dưỡng kiến thức pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về hợp đồng, pháp luật đất đai, pháp luật về nhà ở… cho đội ngũ người làm công tác pháp chế ở các Bộ, ngành, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và người làm công tác pháp chế ở các doanh nghiệp, nhằm tăng cường năng lực đội ngũ này, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác pháp chế…

 Ngoài ra, để thực hiện hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế, đáp ứng yêu cầu của các Bộ, ngành, địa phương, năm 2015, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 01/2015/TT-BTP ngày 15/01/2015 hướng dẫn về nghiệp vụ thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức pháp chế; xuất bản cuốn “Sổ tay công tác pháp chế” hướng dẫn về nghiệp vụ trên các mặt công tác pháp chế, từ công tác lập chương trình, soạn thảo, góp ý, thẩm định, kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến, giáo dục pháp luật, hợp nhất, pháp điển, kiểm tra và xử lý văn bản đến công tác theo dõi thi hành pháp luật…

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chương trình đào tạo khung các lớp đào tạo văn bằng 2 chuyên ngành luật cho đội ngũ người làm công tác pháp chế (Quyết định số 290/QĐ-BTP ngày 06/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 73/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện triển khai Nghị quyết số 67/2013/QH13 của Quốc hội về việc tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành). Chương trình khung các lớp đào tạo văn bằng 2 trong đó có đối tượng làm công tác pháp chế ở Bộ, ngành, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh chưa có trình độ cử nhân luật. Theo Kế hoạch, chương trình này sẽ được triển khai theo hình thức đào tạo tập trung của Trường Đại học Luật Hà Nội.

Thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan có liên quan để tổ chức các hội nghị, hội thảo, lớp bồi dưỡng, lớp tập huấn về công tác pháp luật, nhất là nội dung quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cho đối tượng là cán bộ, công chức làm công tác pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương nhằm nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ này để thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Bộ Tư pháp cũng mong muốn các cơ quan cử người đúng thành phần và chấp hành kỷ luật hội họp nghiêm túc, bởi vì trong năm 2015, nhiều trường hợp các đối tượng tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn, hội nghị… không thực sự nghiêm túc tham dự, có hiện tượng bỏ về giữa buổi…

  1. LĨNH VỰC KIỂM TRA, RÀ SOÁT, HỢP NHẤT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, PHÁP ĐIỂN HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT
  2. Đề nghị Bộ Tư pháp hàng năm tổ chức lớp bồi dưỡng ngắn hạn về công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL cho đội ngũ cán bộ ở các cơ sở, ngành cấp tỉnh. Đồng thời, biên soạn và cung cấp mới tài liệu hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác này (UBND tỉnh Bạc Liêu, Khánh Hòa, Quảng Trị).

Trả lời:

Việc tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao năng lực nghiệp vụ, chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL luôn được Bộ Tư pháp quan tâm. Theo đó, hàng năm, Bộ Tư pháp đều tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho các cán bộ làm công tác kiểm tra, rà soát tại các Bộ, ngành, địa phương, riêng năm 2015, Bộ Tư pháp đã tổ chức 06 lớp tập huấn, bồi dưỡng. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng rất quan tâm đến việc biên soạn và cung cấp các tài liệu hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác này, đặc biệt khi có sự thay đổi về thể chế. Hiện nay, Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản QPPL) đang xây dựng Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và Sổ tay nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ sửa đổi Nghị định số 40/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, theo hướng giao cho Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch xã giúp Hội đồng nhân dân cùng cấp tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (UBND tỉnh Tuyên Quang).

          Trả lời:

Theo quy định tại Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 thì “Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành”.

Theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP thì Trưởng Ban Pháp chế của Hội đồng nhân dân, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã là đầu mối giúp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản.

Hiện tại, Bộ Tư pháp đang tiến hành xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015, trong đó, việc tự kiểm tra đối với văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện này được dự kiến quy định theo hướng giao Ban Pháp chế của Hội đồng nhân dân, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp có trách nhiệm thực hiện việc tự kiểm tra văn bản giúp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp (không phải làm “đầu mối” như trước). Việc quy định Ban Pháp chế (cơ quan thuộc HĐND) thực hiện tự kiểm tra văn bản của HĐND là phù hợp với quy định về trách nhiệm tự kiểm tra của Hội đồng nhân dân và thực tiễn triển khai quy định này trong những năm qua ở địa phương chưa thấy có vướng mắc, hạn chế.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, hướng dẫn các nội dung còn chưa được quy định cụ thể tại Pháp lệnh hợp nhất văn bản QPPL năm 2012 và những vấn đề liên quan đến công tác rà soát văn bản để tạo thuận lợi trong việc triển khai thực hiện trong những năm tiếp theo (Bộ Nội vụ).

Trả lời:

Sau khi Pháp lệnh hợp nhất văn bản QPPL năm 2012, Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/0/2013 về rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL được ban hành, Bộ Tư pháp đã xuất bản Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ hợp nhất, Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL để hướng dẫn cụ thể các nội dung được quy định tại các văn bản này. Ngoài ra, đối với công tác rà soát văn bản QPPL, Bộ Tư pháp đang biên soạn Sổ tay tình huống nghiệp vụ nhằm giải đáp những vướng mắc của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và địa phương trong các tình huống nghiệp vụ cụ thể về rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL.

Đối với từng cơ quan gặp vướng mắc cụ thể trong quá trình thực hiện công tác hợp nhất, rà soát văn bản QPPL, Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản QPPL) đã có trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ trực tiếp qua điện thoại, bằng văn bản. Một số cơ quan có vướng mắc về nghiệp vụ hợp nhất đã mời Cục Kiểm tra văn bản tham dự các Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác hợp nhất với vai trò Báo cáo viên.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường sự phối hợp với các cơ quan trong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL; xác định vai trò của Bộ Tư pháp trong việc phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện công tác kiểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền có kết hợp chặt chẽ với công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật để vừa bảo đảm phát huy hiệu quả công tác kiểm tra văn bản QPPL, theo dõi tình hình thi hành pháp luật, đồng thời tránh việc trùng lặp về đối tượng kiểm tra dẫn đến lãng phí (Bộ Nội vụ).

Trả lời:

Với trách nhiệm là cơ quan được giao giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất về công tác kiểm tra, xử lý văn bản, công tác theo dõi thi hành pháp luật trong phạm vi toàn quốc, Bộ Tư pháp sẽ chủ trì, tích cực phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; đồng thời, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản của các Bộ, ngành, địa phương kết hợp chặt chẽ với công tác theo dõi thi hành pháp luật. Nội dung này đã được đưa vào là một trong những nhiệm vụ trong Kế hoạch công tác của Bộ trong năm 2016 và định hướng trọng tâm công tác tư pháp 2016 – 2020. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng sẽ điều phối các đoàn kiểm tra kết hợp công tác kiểm tra văn bản QPPL với theo dõi thi hành pháp luật để tránh trùng lặp đối tượng và lãng phí.

  1. 5. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc thực hiện pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật về nông nghiệp, nông thôn vì đây là nghiệp vụ mới, phức tạp liên quan đến rà soát, hợp nhất,… Cụ thể: trao đổi, hướng dẫn về nghiệp vụ pháp điển đối với các tình huống cụ thể; thẩm định hồ sơ đề nghị pháp điển khi có đề nghị của Bộ Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn).

Trả lời:

Từ trước đến nay, công tác phối hợp giữa Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong quá trình triển khai các nhiệm vụ công tác luôn được chú trọng. Đối với nhiệm vụ mới, phức tạp như pháp điển hệ thống QPPL cũng không ngoại lệ, trong năm 2015 Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ, trao đổi, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc thực hiện pháp điển (cụ thể: trao đổi với Vụ Pháp chế và Tổng cục Thủy lợi về đề mục Đê điều thuộc trách nhiệm chủ trì thực hiện pháp điển của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Dự kiến trong năm 2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ tổ chức Lớp tập huấn nghiệp vụ pháp điển và đại diện Cục Kiểm tra văn bản – Bộ Tư pháp sẽ tham dự với tư cách là Báo cáo viên, giúp Bộ giải đáp những tình huống nghiệp vụ cụ thể liên quan đến công tác pháp điển hệ thống QPPL.

III. LĨNH VỰC QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường hơn nữa công tác tập huấn nghiệp vụ xử lý vi phạm hành chính cho cán bộ, công chức các địa phương; thường xuyên mở các lớp đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ, công chức có thẩm quyền xử phạt tham gia học tập, trao đổi kinh nghiệm nhằm thực hiện có hiệu quả công tác này (UBND tỉnh Bạc Liêu, Sơn La, Cần Thơ, Quảng Trị, thành phố Hồ Chí Minh)

Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ, công chức cơ sở trong việc triển khai thi hành các quy định của pháp luật và bảo đảm thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương (UBND tỉnh Hải Dương, Khánh Hòa, Quảng Trị).

Trả lời:

Việc tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật luôn được Bộ Tư pháp xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ những người làm công tác xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật ở các Bộ, ngành, địa phương.

Riêng năm 2015, Bộ Tư pháp đã tổ chức 14 Hội nghị tập huấn chuyên sâu về xử lý vi phạm hành chính trên phạm vi cả nước; 02 Hội nghị tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật (tổ chức vào tháng 10/2015 tại Hà Nội, tháng 11/2015 tại Thành phố Hồ Chí Minh). Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đang soạn thảo, chuẩn bị phát hành cuốn Hỏi – đáp về công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Theo kế hoạch, trong năm 2016, Bộ Tư pháp tiếp tục tổ chức các Hội nghị tập huấn chuyên sâu về xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, qua đó, xây dựng đội ngũ báo cáo viên có kinh nghiệm, đảm nhiệm công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về pháp luật xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật cho các Bộ, ngành, địa phương. Đồng thời, Bộ Tư pháp sẽ biên tập, xuất bản cuốn Sổ tay về theo dõi thi hành pháp luật, có tính chất “cầm tay chỉ việc” để giúp đội ngũ cán bộ, công chức hoàn thiện, nâng cao hơn nữa kỹ năng, nghiệp vụ công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Tuy nhiên, công tác xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành, do vậy bên cạnh nỗ lực của ngành Tư pháp thì các Bộ, ngành hữu quan, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng cần có sự quan tâm, thường xuyên tổ chức tập huấn nhằm giúp đội ngũ cán bộ pháp chế, cán bộ làm công tác xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tổ chức thực thi hiệu quả, đầy đủ và đồng bộ các quy định của pháp luật trong giai đoạn hiện nay.

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu với Chính phủ và phối hợp với các bộ, ngành sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn việc thi hành xử lý vi phạm hành chính đối với từng lĩnh vực, đảm bảo sự rõ ràng, cụ thể; rà soát, kịp thời bổ sung, sửa đổi, ban hành mới những quy định không còn phù hợp góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện các Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực, đảm bảo cho việc áp dụng và thực hiện xử lý vi phạm đảm bảo tính thống nhất giữa các ngành, tránh chồng chéo, mâu thuẫn khó hiểu, khó thực hiện trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính có liên quan đến nhiều lĩnh vực (đặc biệt là các quy định về tạm giữ người theo thủ tục hành chính, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông; an ninh văn hóa, an ninh kinh tế, an ninh chính trị, công nghệ cao…); phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện việc áp dụng các biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dưỡng, trường giáo dưỡng, trung tâm cai nghiện. Đồng thời, tổ chức sơ kết việc thực hiện Luật xử lý vi phạm hành chính (UBND tỉnh Hải Dương, Cao Bằng, Đồng Tháp, thành phố Hồ Chí Minh).

Đề nghị Bộ Tư pháp hoàn thiện và tham mưu Chính phủ sớm ban hành Nghị định về xây dựng cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện; đồng thời, cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và hướng dẫn địa phương xây dựng cơ sở dữ liệu về XLVPHC để thực hiện thống nhất trên cả nước (UBND tỉnh Cần Thơ, Khánh Hòa, Tuyên Quang).

Trả lời:

2.1. Việc tham mưu ban hành các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật XLVPHC:

– Để triển khai thi hành Luật XLVPHC kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả, ngày 05/10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1473/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai và Danh mục nghị định quy định chi tiết thi hành Luật XLVPHC. Theo đó, các Bộ, ngành phải xây dựng và trình Chính phủ ban hành 56 nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật. Số lượng các nghị định nêu trên được xây dựng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, gộp nhiều nghị định quy định riêng lẻ thành một số nghị định có phạm vi điều chỉnh rộng hơn thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực của các Bộ, ngành để giảm thiểu số lượng nghị định cần ban hành.

– Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số văn bản được Chính phủ ban hành để quy định chi tiết Luật XLVPHC là 55 Nghị định, trong đó, có 06 Nghị định quy định về các vấn đề chung về xử lý vi phạm hành chính, 46 Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và 03 Nghị định quy định về chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Trong năm 2014 và 2015, đã có gần 20 Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực và Nghị định quy định về chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đã và đang được các Bộ, ngành tiến hành sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát sinh. Tất cả các Nghị định quy định chi tiết Luật XLVPHC nói trên, Bộ Tư pháp đều đã cử đại diện tham gia các Ban soạn thảo, Tổ biên tập, đồng thời, có trách nhiệm thẩm định các văn bản này trước khi trình Chính phủ xem xét, ban hành.

– Ngày 29/12/2015, Bộ Tư pháp đã có Tờ trình số 49/TT-BTP trình Chính phủ dự thảo Nghị định Cơ sở dữ liệu quốc gia về Xử lý vi phạm hành chính.

– Dự kiến trong năm 2016, Bộ Tư pháp sẽ xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn và Nghị định về công tác kiểm tra, phối hợp thanh tra, xử lý trách nhiệm trong việc thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Trong quá trình triển khai các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp mong muốn nhận được các phản hồi về vướng mắc, các điều khoản không khả thi trong thực tiễn áp dụng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để đề xuất, phối hợp với các Bộ, ngành sửa đổi, bổ sung kịp thời.

2.2. Về việc sơ kết 03 năm thực hiện Luật XLVPHC:

 Ngày 14/9/2015, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 7274/VPCP-PL thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có nội dung giao  Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, đánh giá những vướng mắc, bất cập trong thi hành Luật XLVPHC để tiến hành sơ kết 03 năm thực hiện Luật. Báo cáo Chính phủ phương án xử lý những vướng mắc, bất cập trong các quy định của Luật XLVPHC.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hiện nay, Bộ Tư pháp đang chủ động, tích cực phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan rà soát những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tổng hợp kết quả rà soát và đề xuất của các Bộ, cơ quan liên quan về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành Luật XLVPHC. Dự kiến đầu năm 2017, Bộ Tư pháp sẽ tiến hành sơ kết 03 năm thực hiện Luật XLVPHC.

Trên cơ sở kết quả sơ kết việc triển khai thực hiện các quy định về xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trong Luật XLVPHC, Bộ Tư pháp sẽ có đề xuất tổng thể, báo cáo bằng văn bản với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để báo cáo Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật XLVPHC cho phù hợp thực tiễn.

2.3. Việc phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện:

Ngày 20/01/2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Để triển khai thi hành Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, Tòa án nhân dân tối cao đang soạn thảo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Bộ Tư pháp đã, đang và sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân tối cao trong việc phối hợp, nghiên cứu, tham gia góp ý dự thảo Nghị quyết nêu trên.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn về nội dung chi, mức chi cụ thể đảm bảo cho việc thực hiện công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật (UBND tỉnh Cao Bằng).

Trả lời:

– Đối với Thông tư quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí trong quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính: Năm 2015, Bộ Tư pháp đã đề xuất và hiện đang phối hợp với Bộ Tài chính chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Thông tư. Dự kiến sẽ ban hành trong quý II năm 2016.

– Về kinh phí bảo đảm cho công tác theo dõi thi hành pháp luật

Hiện nay, kinh phí phục vụ cho công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật ở địa phương được quy định tại Thông tư liên tịch số 47/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 16/3/2012 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên, nội dung chi được quy định tại Thông tư nêu trên chưa bao quát đầy đủ các hoạt động cần bảo đảm kinh phí, trong khi mức chi còn thấp, chưa phù hợp với tính chất, tình hình thực tế của công việc.

Để khắc phục tình trạng nêu trên, trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, soạn thảo nội dung chi bảo đảm hoạt động cho công tác theo dõi thi hành pháp luật trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (dự kiến trình Chính phủ vào Quý I/2016). Sau khi Nghị định được ban hành, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính để hướng dẫn cụ thể, chi tiết mức chi nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

  1. 4. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm có văn bản hướng dẫn về tiêu chí đánh giá việc theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện ở địa phương (UBND tỉnh Đồng Tháp).

Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về thẩm quyền của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thi hành pháp luật; tham mưu để có chính sách bảo đảm các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn trong việc áp dụng pháp luật ở địa phương. Đồng thời, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo đảm việc thi hành pháp luật ở địa phương đạt được hiệu quả cao. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, trong đó có việc quy định cụ thể về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra của Uỷ ban nhân dân các cấp (UBND tỉnh Hải Dương).

Trên cơ sở kết quả sơ kết 3 năm thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, đề nghị Bộ Tư pháp sớm có phương án trình Chính phủ để hoàn thiện pháp luật về theo dõi tình hình thi hành pháp luật; làm rõ yêu cầu, mục đích của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; phối hợp các Bộ, ngành Trung ương hướng dẫn trách nhiệm thực hiện theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo ngành dọc và trách nhiệm phối hợp với các cơ quan Tư pháp cùng cấp để tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện theo dõi tình hình thi hành pháp luật ở địa phương (UBND thành phố Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Những vấn đề vướng mắc của các Bộ, ngành, địa phương trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật như mục đích, yêu cầu, tiêu chí đánh giá của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan tổ chức trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật và cơ chế phối hợp trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật đã được Bộ Tư pháp nghiên cứu, đánh giá thông qua hoạt động sơ kết 03 năm thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 về theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Ngày 07/10/2015, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 1785/QĐ-BTP về ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/2012/NĐ-CP trong Quý I/2016.

Bên cạnh đó, để phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác có liên quan trong công tác phối hợp trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đang dự kiến tham mưu Chính phủ xây dựng, ban hành Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về Quy chế phối hợp trong theo dõi thi hành pháp luật.

Đồng thời, để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các bộ, ngành, địa phương, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình, trong năm 2015, Bộ Tư pháp đã tổ chức 06 Đoàn kiểm tra công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, tại Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Nam Định, Bình Định, Phú Yên; 04 Đoàn kiểm tra về tình hình thi hành pháp luật về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tại Hà Nội, Quảng Ninh, Tây Ninh và Tp. Hồ Chí Minh. Năm 2016, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tăng cường công tác hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về việc phối hợp thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; phối hợp với Bộ, ngành Trung ương hướng dẫn việc phối hợp thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật từ các Bộ, ngành Trung ương (UBND tỉnh Khánh Hòa).

Trả lời:

          Luật XLVPHC đã được Quốc hội khóa XIII (kỳ họp thứ ba) thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014. Để triển khai thực hiện Luật XLVPHC, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC. Theo đó, khoản 3, khoản 4 Điều 17 Luật XLVPHC quy định cụ thể trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, các Bộ, ngành trong việc thực hiện hoặc phối hợp thực hiện với Bộ Tư pháp đối với công tác quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trong thực tiễn triển khai thi hành Luật, nếu thấy cần thiết, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, báo cáo Chính phủ đề nghị xây dựng Quy chế phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC.

  1. LĨNH VỰC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
  2. Đề nghị Bộ Tư pháp cần có biện pháp hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC để các TTHC mới ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế của tỉnh được cập nhập, công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC kịp thời; đồng thời, có biện pháp phối hợp, đôn đốc các Bộ, ngành thực hiện việc công bố TTHC đã chuẩn hóa để địa phương thực hiện việc chuẩn hóa dữ liệu TTHC trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (UBND tỉnh Quảng Bình, Bạc Liêu, Bình Định, Hải Dương, Cần Thơ, Đồng Tháp, Khánh Hòa).

Trả lời:

– CSDLQG về TTHC đã được Bộ Tư pháp triển khai nâng cấp về kỹ thuật công nghệ, các tính năng trong năm 2014 và đưa vào vận hành chính thức từ 01/7/2015. Một trong những tính năng mới được nâng cấp của hệ thống cho phép hiển thị các thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế trong tháng qua giao diện tra cứu thủ tục hành chính của người dân, doanh nghiệp tại địa chỉ: http://csdl.thutuchanhchinh.vn. Cụ thể: các thủ tục hành chính mới được ban hành sau khi được các Bộ, ngành, địa phương cập nhật vào CSDLQG về TTHC, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thực hiện việc đăng tải công khai trên Internet theo quy định tại Thông tư số 19/2014/TT-BTP; kết quả, thủ tục hành chính này được hiển thị tại mục “thủ tục hành chính mới được đăng tải”, các thủ tục hành chính được thay thế, hủy bỏ sẽ hiển thị tại mục “thủ tục hành chính hết hiệu lực trong tháng”. Như vậy, về cơ bản, CSDLQG về TTHC đã được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ công tác kiểm soát thủ tục hành chính, góp phần giảm tải cho công chức thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, do hạ tầng công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu của việc vận hành CSDLQG về TTHC nên có lúc việc cập nhật, công khai thủ tục hành chính trên CSDLQG về TTHC chưa được kịp thời. Dự kiến năm 2016, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính sẽ phối hợp với Cục Công nghệ thông tin tiếp tục nâng cấp CSDLQG về TTHC theo hướng thuận lợi trong việc tra cứu, tìm hiểu thủ tục hành chính và kết nối với Cổng dịch vụ công quốc gia.

– Triển khai Quyết định số 08/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương thực hiện chuẩn hóa, công khai thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính. Thực hiện nhiệm vụ được giao,          thời gian qua, Bộ Tư pháp đã hướng dẫn và thường xuyên đôn đốc các Bộ, ngành thực hiện việc chuẩn hóa, công khai thủ tục hành chính. Tuy nhiên, do khối lượng công việc lớn nên đến nay, vẫn còn một số Bộ, ngành chưa hoàn thành công bố thủ tục hành chính đã được chuẩn hóa. Bộ Tư pháp đã tổng hợp tình hình thực hiện chuẩn hóa thủ tục hành chính tại các Bộ ngành và tiếp tục đôn đốc thực hiện, góp phần tạo thuận lợi cho địa phương công bố, công khai thủ tục hành chính.

  1. Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác rà soát, đánh giá TTHC đề nghị Bộ Tư pháp cần phối hợp, thống nhất với các Bộ, ngành Trung ương trong việc xử lý các phương án kiến nghị đơn giản hóa TTHC của các địa phương và có văn bản phúc đáp (có chấp nhận hay không, lý do…) (UBND tỉnh Bạc Liêu).

Trả lời:

– Việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính đã được quy định tại Chương V Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, Điều 1 Nghị định số 48/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 07/2014/TT-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Theo đó, trên cơ sở kết quả rà soát, đánh giá thủ tục hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ và đề nghị của UBND tỉnh, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc tổng hợp phương án sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ thủ tục hành chính, các quy định có liên quan thuộc phạm vi thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, gửi Bộ Tư pháp xem xét, đánh giá trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Để nâng cao chất lượng công tác này, Bộ Tư pháp đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 10/6/2015 về tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong công tác cải cách thủ tục hành chính, trong đó, giao trách nhiệm các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chỉ đạo xử lý kịp thời các kiến nghị đề xuất về đơn giản hóa quy định, thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ, ngành do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các Bộ, ngành trong việc xử lý các phương án kiến nghị đơn giản hóa thủ tục hành chính của các địa phương.

– Hoạt động quản lý nhà nước về kiểm soát thủ tục hành chính là hoạt động độc lập do Bộ Tư pháp thực hiện theo quy định của Chính phủ. Hiện nay, hoạt động này đã được thể chế hóa tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành thống nhất, thông suốt nhằm phát huy hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong việc nâng cao chất lượng thể chế và cải cách hành chính. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành trung ương tăng cường chất lượng tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản chỉ đạo kịp thời đối với những công việc phát sinh.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp cần xem xét, nghiên cứu việc ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể đối với những bất cập, vướng mắc hoặc điều chỉnh lại một số nội dung quy định tại Thông tư số 05/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 02 năm 2014; thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trong lĩnh vực kiểm soát thủ tục hành chính cho đội ngũ công chức, viên chức nhằm nâng cao kỹ năng và trình độ nghiệp vụ (UBND tỉnh Bạc Liêu,Cao Bằng, Khánh Hòa).

Trả lời:

Việc thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, Nghị định số 48/2013/NĐ-CP, Thông tư số 05/2014/TT-BTB và một số văn bản hướng dẫn thi hành là một quy trình chặt chẽ, lý tưởng. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến một số khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện, nhất là đối với địa phương. Vì vậy, Bộ Tư pháp luôn xác định việc trao đổi, giải đáp và hướng dẫn về những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện công bố công khai thủ tục hành chính là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Hàng năm, Bộ đều tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính và coi là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Riêng năm 2015, Bộ đã tổ chức 03 Hội nghị lớn với 24 Bộ, ngành, cơ quan, 63 địa phương, thành phố trực thuộc Trung ương về công tác này (Hội nghị giao ban, tập huấn tổ chức vào Quý I, 6 tháng, 10 tháng năm 2015). Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã biên soạn Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính để làm tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Trên cơ sở ý kiến của địa phương, năm 2016, Bộ Tư pháp sẽ tổ chức các chương trình tập huấn phù hợp, đáp ứng yêu cầu mới về công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Về một số nội dung còn khó thực hiện theo quy định tại Thông tư số 05/2014/TT-BTP như phản ánh của tỉnh Bạc Liêu, Cao Bằng, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục nghiên cứu để điều chỉnh.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp cần tiếp tục quan tâm hơn nữa trong việc chủ trì hoặc phối hợp với các ngành có liên quan, tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời đối với lĩnh vực công tác kiểm soát thủ tục hành chính, tránh chồng chéo, mâu thuẫn trong các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo (UBND tỉnh Đồng Tháp).

Trả lời:

Hoạt động quản lý nhà nước về kiểm soát thủ tục hành chính là hoạt động độc lập do Bộ Tư pháp thực hiện theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, Nghị định số 48/2013/NĐ-CP. Hiện nay, hoạt động này đã được thể chế hóa tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành thống nhất, thông suốt nhằm phát huy hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong việc nâng cao chất lượng thể chế và cải cách hành chính. Bên cạnh đó, định kỳ hàng năm, Bộ Tư pháp tổ chức 02 kỳ giao ban với các Bộ, ngành, địa phương để nắm bắt tình hình và đôn đốc thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương tăng cường chất lượng tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản chỉ đạo kịp thời đối với những công việc phát sinh.

  1. 5. Đề nghị Bộ Tư pháp có giải pháp hiệu quả trong công tác truyền thông hỗ trợ kiểm soát thủ tục hành chính để huy động được người dân, doanh nghiệp tham gia vào quá trình giám sát các cơ quan hành chính trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính (UBND tỉnh Hải Dương).

Trả lời:

Thời gian qua, Bộ Tư pháp đã có nhiều giải pháp để nâng cao công tác truyền thông hỗ trợ kiểm soát thủ tục hành chính. Về phía Bộ, đã ký chương trình phối hợp tuyên truyền tình hình, kết quả cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính với 07 cơ quan thông tấn, báo chí của Trung ương. Các cơ quan này thường xuyên cử phóng viên tham dự, đưa tin viết bài về các hoạt động cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính diễn ra tại Hà Nội. Đồng thời, hàng năm Bộ Tư pháp tổ chức các Đoàn báo chí để thông tin, tuyên truyền về tình hình, kết quả và tác động của công tác cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính; tìm hiểu thực tế, viết tin, bài, xây dựng phóng sự tuyên truyền về về hiệu quả kinh tế xã hội, những cách làm hay, điểm sáng trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính của các Bộ, ngành, địa phương.

Đối với một số hoạt động công tác cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính tổ chức tại các địa phương, Bộ Tư pháp cũng mời một số báo, đài ở Trung ương và địa phương nơi diễn ra sự kiện đưa tin để tuyên truyền, quảng bá về công tác của Bộ.

Ngoài ra, để giúp các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh công tác truyền thông về cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, trên trang tin điện tử của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp có mục “Hỗ trợ truyền thông”: (http://thutuchanhchinh.vn/noidung/tintuc/Lists/HoTroTruyenThong/View_Detail.aspx) để hỗ trợ các thông tin, tài liệu giúp các Bộ, ngành, địa phương triển khai công tác truyền thông về cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục          hành chính.

Đối với các hoạt động truyền thông cụ thể theo từng thời điểm, đề nghị các địa phương căn cứ Kế hoạch, nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính để tổ chức triển khai. Các kinh nghiệm tổ chức hoạt động truyền thông cụ thể, có thể liên hệ với Phòng Hợp tác công – tư về cải cách quy định hành chính, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp (số điện thoại: 08049107) để cùng trao đổi.

  1. LĨNH VỰC TỔ CHỨC CÁN BỘ
  2. Đề nghị Bộ Tư pháp quan tâm hỗ trợ đầu tư cho Hà Giang về công tác đào tạo cán bộ pháp lý tại địa phương như tạo điều kiện mở các lớp Đại học Luật hệ chính quy cho con em các dân tộc tại tỉnh đã tốt nghiệp THPT tại Trường Nội trú tỉnh có cơ hội thi Đại học và tiếp tục mở rộng đối tượng đào tạo các lớp Trung cấp Luật hệ chính quy cho đội ngũ cán bộ Tư pháp cấp xã trong tỉnh (hiện nay, mới chỉ hỗ trợ đào tạo miễn phí cho cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã tại 06 huyện nghèo theo Chương trình 30a của Chính phủ) (UBND tỉnh Hà Giang).

Trả lời:

  1. Đối với việc tạo điều kiện mở các lớp Đại học Luật hệ chính quy cho con em các dân tộc tại tỉnh đã tốt nghiệp THPT tại Trường Nội trú tỉnh có cơ hội thi đại học:

Theo quy định tại các Điều 5 (Về đối tượng và chỉ tiêu cử tuyển), Điều 6 (Tiêu chuẩn được hưởng chế độ cử tuyển), Điều 7 (Tổ chức cử tuyển) và Khoản 2, Điều 8 (Tổ chức đào tạo) của Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ về chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân thì việc tổ chức riêng 01 lớp đào tạo đại học luật chính quy cho đối tượng là con em các dân tộc tại tỉnh Hà Giang đã tốt nghiệp THPT tại Trường Nội trú tỉnh là không khả thi. Trong những năm vừa qua, Trường Đại học luật Hà Nội đã đào tạo cho các sinh viên là đối tượng được cử tuyển theo quy định của Nghị định số 134/2006/NĐ-CP. Vì vậy, để tạo điều kiện cho con em các dân tộc thiểu số của tỉnh được học đại học luật hệ chính quy theo diện cử tuyển, đề nghị UBND tỉnh Hà Giang trong những năm tới tiếp tục quan tâm, thực hiện đầy đủ quy định về tổ chức cử tuyển từ khâu đề xuất chỉ tiêu, tuyển chọn, đặt hàng đào tạo… và phối hợp với Trường Đại học Luật Hà Nội để xem xét, bố trí, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đạt tiêu chuẩn theo học chương trình đại học đúng quy định của pháp luật.

  1. Tiếp tục mở rộng đối tượng đào tạo các lớp trung cấp luật chính quy cho đội ngũ cán bộ Tư pháp cấp xã trong tỉnh:

Hiện nay, Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên được giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ pháp lý cho các tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc Bộ. Trong thời gian qua, Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên đã phối hợp với các đơn vị có liên quan thuộc tỉnh Hà Giang hỗ trợ tổ chức đào tạo được 168 học sinh học Trung cấp Luật, trong đó đào tạo miễn phí cho đối tượng cán bộ Tư pháp – Hộ tịch cấp xã theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP.

Riêng đối với đề nghị mở rộng đối tượng đào tạo hưởng chế độ ưu đãi, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu, xem xét các văn bản QPPL hiện hành và nhận thấy việc thực hiện nhiệm vụ trên tại thời điểm này là không khả thi. Mặt khác, các Trường Trung cấp Luật thuộc Bộ Tư pháp đều mới được thành lập, còn gặp nhiều khó khăn không thể xây dựng được cơ chế hỗ trợ riêng cho các đối tượng như theo yêu cầu của UBND tỉnh Hà Giang. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp dự kiến tiếp tục thực hiện việc ưu tiên đào tạo miễn phí cho đối tượng hưởng chế độ ưu đãi theo quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp kiến nghị với Bộ Nội vụ bổ sung biên chế cán bộ thực hiện các nhiệm vụ mà ngành Tư pháp mới được giao thêm như xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, bồi thường trách nhiệm nhà nước. Xem xét chế độ phụ cấp thâm niên; chính sách thu hút đối với cán bộ có trình độ Đại học Luật chính quy về công tác tại các tỉnh miền núi (UBND tỉnh Sơn La, Tuyên Quang).

Trả lời:

  1. Về đề nghị bổ sung biên chế cán bộ thực hiện các nhiệm vụ mới được giao

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp và các cơ quan Tư pháp địa phương đã được giao thêm nhiều nhiệm vụ mới theo quy định của Luật lý lịch tư pháp, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật…. Để bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp đã luôn chú trọng công tác kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí biên chế, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức để triển khai nhiệm vụ tại các cơ quan Tư pháp địa phương. Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành một số văn bản hướng dẫn về bộ máy, biên chế như: Thông tư liên tịch số 18/2011/TTLT-BTP-BNV ngày 19/10/2011 hướng dẫn nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức biên chế của Sở Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Phòng Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện về bồi thường nhà nước; Quyết định số 1950/QĐ-TTg ngày 22/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng tổ chức bộ máy, biên chế triển khai thực hiện quản lý thống nhất công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan Tư pháp địa phương”. Đặc biệt, việc ban hành Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (thay thế cho Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV) đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bố trí biên chế, quản lý và sử dụng cán bộ của các cơ quan Tư pháp địa phương.

Qua theo dõi cho thấy, việc triển khai thực hiện các văn bản nêu trên tại địa phương vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Do vậy, cùng với việc ban hành các văn bản triển khai thực hiện nêu trên, năm 2014 và 2015, Bộ Tư pháp cũng đã tiến hành kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành Tư pháp (năm 2014, Bộ Tư pháp đã kiểm tra, đánh giá, khảo sát tại 08 tỉnh[2]; năm 2015 Bộ đã thực hiện kiểm tra đối với 11 đơn vị thuộc Bộ, 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[3]). Nội dung kiểm tra tập trung vào việc thực hiện phân cấp quản lý nhà nước các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ tại các cơ quan Tư pháp địa phương và việc bố trí công chức Tư pháp – Hộ tịch. Thông qua hoạt động kiểm tra, Bộ đã hướng dẫn các cơ quan tư pháp, cơ quan Thi hành án địa phương thực hiện quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy, cán bộ, đồng thời tổng hợp các đề xuất, kiến nghị để tiếp tục phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tháo gỡ vướng mắc.

Đối với vấn đề biên chế, theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương, Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 8/3/2010 của Chính phủ quy định về quản lý biên chế công chức thì việc quyết định phân bổ chỉ tiêu biên chế hành chính của địa phương thuộc trách nhiệm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Do đó, Bộ Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động, tích cực hơn trong việc phối hợp với các cơ quan, ban, ngành có liên quan đề xuất bổ sung biên chế cho đội ngũ cán bộ tư pháp ở địa phương theo Đề án vị trí việc làm đã được phê duyệt.

  1. Về đề nghị xem xét chế độ phụ cấp thâm niên, chính sách thu hút đối với cán bộ có trình độ Đại học Luật chính quy về công tác tại các tỉnh miền núi

Trong những năm qua, Bộ Tư pháp và các cơ quan Tư pháp địa phương đã thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về thu hút, tuyển chọn cán bộ, đồng thời đã chủ động, tích cực phối hợp với cơ quan có thẩm quyền ban hành và thực hiện một số chính sách nhằm thu hút, tuyển chọn, đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức vào làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập của Bộ Tư pháp và các địa phương.

Năm 2011, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế thu hút, tuyển chọn và đổi mới chế độ, chính sách đối với cán bộ thuộc ngành Tư pháp làm căn cứ triển khai thực hiện trong Ngành. Theo đó, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định về phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự, trợ giúp viên pháp lý, giám định viên tư pháp và công chứng viên, văn bản quy định chế độ định mức chi đặc thù cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của ngành Tư pháp như xây dựng, thi hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật…

Theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ, đội ngũ cán bộ tư pháp là một bộ phận của đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương, việc quản lý về tổ chức, cán bộ và thực hiện chế độ, chính sách do địa phương quyết định. Vì vậy, chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để thu hút nguồn nhân lực về công tác tại cơ quan Tư pháp địa phương, đặc biệt có những chính sách ưu đãi theo quy định đối với cán bộ có trình độ Đại học Luật chính quy về công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn như xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển trong các trường hợp đặc biệt (người tốt nghiệp loại giỏi, người có kinh nghiệm công tác trong Ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 5 năm trở lên), hỗ trợ kinh phí, điều kiện vật chất…

  1. Để có cơ sở thực hiện việc bố trí đủ nhân sự Phòng Kiểm soát TTHC, đúng theo Chỉ thị số 15/CT-TTg, đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ có văn bản quy định cụ thể tổng số biên chế nhân sự Phòng Kiểm soát TTHC thuộc Sở Tư pháp (UBND tỉnh Bạc Liêu).

Trả lời:

Theo Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 05/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định số 48/2013/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu “… Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương… tổ chức thực hiện việc chuyển giao, tiếp nhận nhiệm vụ, tổ chức, biên chế hành chính được giao cho Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính… từ Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh về Sở Tư pháp”. Do đó, tổ chức, biên chế của Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính được chuyển giao nguyên trạng về Sở Tư pháp.

Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong đó quy định cụ thể cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố bao gồm Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính (Điều 3), mỗi Phòng chuyên môn thuộc Sở có Trưởng phòng, không quá 03 Phó Trưởng phòng và các công chức khác (Điều 6, Khoản 1). Trên cơ sở các văn bản trên và đề xuất vị trí việc làm của Sở Tư pháp, đề nghị chính quyền địa phương bố trí biên chế của Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính giữ nguyên theo số biên chế đã được giao trước khi chuyển về Sở Tư pháp, đồng thời quan tâm, bố trí biên chế cho Sở Tư pháp theo quy định, đảm bảo đủ số lượng biên chế để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp đề xuất với Chính phủ để có cơ chế đãi ngộ hợp lý cho công chức ngành Tư pháp nhằm động viên, khuyến khích những người đang công tác trong Ngành và thu hút nhân tài vào làm việc trong ngành Tư pháp (UBND tỉnh Quảng Trị).

Trả lời:

Việc giải quyết chế độ, chính sách đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức luôn được Bộ Tư pháp quan tâm và tích cực triển khai theo quy định của pháp luật hiện hành. Về nguyên tắc, cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp là một bộ phận thuộc cơ quan hành chính nhà nước nên việc thực hiện chính sách tiền lương đều căn cứ vào quy định chung của nhà nước. Công chức, viên chức ở một số ngạch và các chức danh tư pháp được hưởng chế độ phụ cấp theo quy định của pháp luật và ở một số lĩnh vực đặc thù Ngành đã có quy định cụ thể về chế độ, định mức chi như kinh phí hỗ trợ xây dựng, thi hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật… Như vậy, ngoài những chính sách nêu trên, việc cải cách chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ công chức tư pháp phải được thực hiện trong lộ trình cải cách chung về tiền lương cho đội ngũ cán bộ, công chức của Chính phủ.

  1. LĨNH VỰC KẾ HOẠCH – TÀI CHÍNH
  2. Đề nghị Bộ Tư pháp triển khai xây dựng phần mềm về chế độ thông tin, báo cáo trong các lĩnh vực Tư pháp đến địa phương để hỗ trợ công tác báo cáo được thuận lợi, chính xác, tiết kiệm được thời gian, nhân lực (UBND tỉnh Khánh Hòa).

Trả lời:

Bộ Tư pháp đã xây dựng và tổ chức triển khai Đề án ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thống kê ngành Tư pháp (được ban hành theo Quyết định số 298/QĐ-BTP ngày 08/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), trong đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đề án là xây dựng phần mềm báo cáo thống kê ngành Tư pháp theo Thông tư số 20/2013/TT-BTP ngày 03/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp. Trong năm 2014 và đầu 2015, Phân hệ I của Phần mềm báo cáo thống kê đã hoàn thành (áp dụng đến các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp). Nếu theo đúng như lộ trình tại Đề án nói trên thì đến 2016 phần mềm này sẽ được ứng dụng tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ (tổ chức pháp chế) và các Sở Tư pháp. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu mới về thể chế trong lĩnh vực thống kê và trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác tư pháp cũng như yêu cầu quản lý Ngành, nên trong năm 2015 Bộ Tư pháp đã tiến hành nghiên cứu sửa đổi Thông tư số 20/2013/TT-BTP. Do đó, hiện tại việc xây dựng Phần mềm báo cáo thống kê ngành Tư pháp theo Thông tư số 20/2013/TT-BTP đang tạm dừng và sẽ được Bộ Tư pháp (Cục Công nghệ thông tin chủ trì phối hợp với Vụ Kế hoạch – Tài chính) bổ sung, chỉnh lý, hoàn thiện, đưa vào sử dụng sau khi Thông tư thay thế Thông tư số 20/2013/TT-BTP được ban hành.

  1. 2. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, xem xét đổi mới việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê công tác tư pháp và việc ban hành các kế hoạch công tác tư pháp, tránh tình trạng hiện nay Sở Tư pháp phải trình UBND tỉnh ban hành quá nhiều báo cáo và các kế hoạch công tác tư pháp (UBND tỉnh Tuyên Quang, Quảng Bình).

Trả lời:

Trong thời gian vừa qua Bộ Tư pháp đã rất nỗ lực trong việc đổi mới công tác báo cáo thống kê, thể hiện qua việc ban hành mới hoặc sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thống kê trong ngành Tư pháp. Hiện tại, Bộ, ngành Tư pháp có 04 Thông tư quy định về chế độ báo cáo thống kê và có liên quan, gồm 01 Thông tư quy định chung về công tác thống kê đối với 20 lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, 02 Thông tư chuyên ngành quy định về thống kê trong lĩnh vực thi hành án dân sự và 01 Thông tư quy định về chế độ báo cáo trong lĩnh vực quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật (kèm theo một số biểu báo cáo có tính chất thống kê),cụ thể :

+ Thông tư số 20/2013/TT-BTP ngày 03/12/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp (với 110 biểu mẫu báo cáo thống kê)

+ Thông tư số 01/2013/TT-BTP ngày 03/01/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn Chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự và mới đây Bộ trưởng Bộ Tư pháp vừa ký ban hành Thông tư số 08/2015/TT-BTP ngày 26/6/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2013/TT-BTP (kèm theo 19 biểu mẫu báo cáo thống kê thi hành án  dân sự).

+ Thông tư số 10/2015/TT-BTP ngày 31/8/2015 của Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo trong quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Hiện tại, để đáp ứng yêu cầu mới của pháp luật thống kê và thực tiễn quản lý Ngành, Bộ Tư pháp đang xây dựng Thông tư thay thế Thông tư số 20/2013/TT-BTP theo hướng sửa đổi, bổ sung, cập nhật những quy định mới đảm bảo phù hợp với những định hướng cơ bản của Luật thống kê 2015 được Quốc hội thông qua ngày 23/11/2015. Đặc biệt, hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê kèm theo Dự thảo Thông tư đã được chỉnh sửa, bổ sung và thiết kế lại, theo tinh thần đảm bảo phù hợp với quy định mới của pháp luật chuyên ngành trên một số lĩnh vực (như soạn thảo ban hành văn bản, hộ tịch, chứng thực,…), đồng thời đảm bảo tính hợp lý, khoa học, đơn giản hơn, khả thi hơn (hiện nay tổng số biểu mẫu được xây dựng kèm theo Dự thảo Thông tư mới là 80 biểu, giảm 30 biểu so với Thông tư số 20/2013/TT-BTP, tỷ lệ giảm chiếm 27%).

Nhằm giảm bớt thủ tục ,đồng thời đẩy nhanh tiến độ xây dựng báo cáo, Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 20/2013/TT-BTP đã quy định toàn bộ biểu mẫu báo cáo thống kê cấp tỉnh đều do Giám đốc Sở Tư pháp ký báo cáo.

  1. Hiện nay, Bộ Tư pháp yêu cầu các Bộ, ngành xây dựng quá nhiều loại Kế hoạch nhưng không có cơ sở pháp lý về việc xây dựng Kế hoạch này, như Kế hoạch về quản lý xử lý vi phạm hành chính hàng năm. Một số loại Kế hoạch có nội dung trùng lặp (Kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật chung và Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính…) hoặc nhiều kế hoạch không thực tiễn vì nội dung nhỏ và đã gắn với hoạt động chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị (Kế hoạch thực hiện Đề án “Đẩy mạnh phổ biến nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị…; Kế hoạch sơ kết Nghị định số 59 về theo dõi thi hành pháp luật…). Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu giảm bớt chỉ yêu cầu các Bộ, ngành xây dựng các Kế hoạch đối với các công việc mà văn bản quy phạm pháp luật có liên quan không yêu cầu phải xây dựng Kế hoạch quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).

Trả lời:

3.1. Về ý kiến: “Bộ Tư pháp yêu cầu các Bộ, ngành xây dựng quá nhiều loại kế hoạch nhưng không có cơ sở pháp lý về việc xây dựng các loại Kế hoạch này”.

Trong hoạt động quản lý ở bất kỳ lĩnh vực, phạm vi và cấp độ nào, kế hoạch công tác có vai trò hết sức quan trọng. Kế hoạch là cơ sở, đồng thời là công cụ để quản lý, điều hành; là thước đo khách quan để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của các đối tượng được giao nhiệm vụ. Căn cứ vào kế hoạch, chủ thể quản lý mới có phương án phù hợp để huy động và cân đối, phân bổ nguồn lực (nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí) để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, hướng tới mục tiêu đã định. Việc xây dựng kế hoạch công tác xuất phát từ nhu cầu quản lý điều hành của chủ thể quản lý, không phụ thuộc vào việc có văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính quy định việc xây dựng kế hoạch đó hay không. Nói cách khác, không nhất thiết phải có căn cứ pháp lý mới được xây dựng hoặc yêu cầu/đề nghị xây dựng kế hoạch công tác.

Những năm gần đây, quán triệt phương châm “quản lý bằng kế hoạch và trên cơ sở kế hoạch”, Lãnh đạo Bộ Tư pháp luôn quan tâm, chỉ đạo xây dựng các kế hoạch công tác, nhất là kế hoạch công tác theo lĩnh vực chuyên môn thuộc phạm vi quản lý của Bộ, ngành Tư pháp để triển khai thực hiện nhiệm vụ trong toàn Ngành. Tùy theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ chuyên môn, ở phần tổ chức thực hiện những kế hoạch đó, Bộ Tư pháp thường yêu cầu/đề nghị các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị trong ngành Tư pháp tiếp tục xây dựng kế hoạch để triển khai nhiệm vụ, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong toàn quốc. Những yêu cầu/đề nghị này là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, bởi mỗi Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị có phạm vi triển khai nhiệm vụ khác nhau và có những điều kiện đặc thù riêng mà kế hoạch công tác của Bộ Tư pháp không thể bao quát hết được. Tùy từng trường hợp cụ thể, các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị có thể xây dựng kế hoạch riêng để triển khai nhiệm vụ hoặc ghép phương án triển khai nhiều nhóm nhiệm vụ vào chung một kế hoạch.

3.2. Về ý kiến: “Một số loại Kế hoạch có nội dung trùng lặp (Kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật chung và Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính…)”.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật, thì các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Ngày 29/12/2014, Bộ Tư pháp có Công văn số 1347/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ về việc xây dựng Kế hoạch quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP.

Hai kế hoạch trên là khác nhau. Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả, và giảm bớt thủ tục hành chính, các Bộ, ngành, địa phương có thể ban hành kế hoạch chung, trong đó bao gồm nội dung kế hoạch về công tác theo dõi thi hành pháp luật và nội dung kế hoạch quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; không nhất thiết phải xây dựng hai kế hoạch riêng cho hai nhóm nhiệm vụ này.

3.3. Về ý kiến: “Nhiều loại kế hoạch không thực tiễn vì nội dung nhỏ và đã gắn với hoạt động chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị (ví dụ Kế hoạch thực hiện Đề án “Đẩy mạnh phổ biến nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị…)”.

Đề án “Đẩy mạnh phổ biến nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và pháp luật Việt Nam về các quyền dân sự, chính trị cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân giai đoạn 2015 – 2020” được ban hành ngày 11/3/2015 theo Quyết định số 452/QĐ-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Do Đề án được phê duyệt sau khi đã có Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2015, nên để bảo đảm Đề án được triển khai thống nhất, hiệu quả ngay trong năm đầu tiên, Bộ Tư pháp đã có văn bản đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng Kế hoạch chi tiết thực hiện Đề án. Khi triển khai các hoạt động trọng tâm của Đề án, các Bộ, ngành, địa phương cần thực hiện lồng ghép trong triển khai các hoạt động phổ biến pháp luật xác định tại kế hoạch chung về PBGDPL của Bộ, ngành, địa phương để tiết kiệm nguồn lực.

Tuy nhiên, để khắc phục tình trạng ban hành quá nhiều kế hoạch trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng và kế hoạch công tác tư pháp nói chung, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu để hướng dẫn đổi mới công tác xây dựng kế hoạch theo hướng xây dựng kế hoạch tổng thể về công tác tư pháp nói chung, trong đó có các lĩnh vực cụ thể. Đối với việc triển khai một số đề án, văn bản đột xuất thì Bộ Tư pháp sẽ có hướng dẫn cách thức xây dựng các kế hoạch một cách cụ thể, có thể đề xuất xây dựng kế hoạch riêng cho năm đầu tiên triển khai đề án, văn bản còn các năm tiếp theo thì đưa vào kế hoạch chung về công tác tư pháp của các Bộ, ngành, địa phương.

  1. 4. Đề nghị Bộ Tư pháp thống nhất 01 Báo cáo chung về công tác pháp chế đối với các Bộ, tránh tình trạng các đơn vị tham mưu của Bộ Tư pháp có nhiều công văn đề nghị báo cáo đối với các nghiệp vụ pháp chế riêng lẻ như: tuyên truyền, phổ biến pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; pháp điển; hợp nhất,… Trong đó, mỗi công tác pháp chế gồm 3 báo cáo: báo cáo 6 tháng, báo cáo năm lần 1, báo cáo năm chính thức. Mỗi báo cáo đòi hỏi rất nhiều thời gian tổng hợp, xử lý số liệu, gây ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của các Bộ, ngành (Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công thương).

Trả lời:

4.1. Về kiến nghị việc “thống nhất 01 báo cáo chung về công tác pháp chế”

Theo quy định của pháp luật, hệ thống báo cáo hiện nay các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm gửi cho Bộ Tư pháp để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp theo quy định của pháp luật, trong đó có công tác pháp chế) được tạm chia làm hai loại:

– Loại Báo cáo chuyên đề về một hoặc một nhóm lĩnh vực công tác tư pháp, phục vụ việc đánh giá triển khai công tác theo từng lĩnh vực hoặc nhóm lĩnh vực về công tác pháp chế theo quy định của pháp luật (1).

– Báo cáo thống kê (kèm theo hệ thống các biểu mẫu thống kê theo từng lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác tư pháp) (2).

Loại báo cáo số (1) được thể hiện bằng hình thức ký tự chữ, kết hợp số liệu để thuyết minh cho các quan điểm, nhận định, phân tích được thể hiện trong các loại báo cáo chữ đó. Riêng loại báo cáo thống kê số (2) được thể hiện bằng hình thức ký tự số (với những yêu cầu đặc thù về thể thức, về chuyên môn theo pháp luật thống kê). Đối với loại báo cáo thống kê (loại số 2), các tổ chức pháp chế của Bộ, cơ quan ngang Bộ thường được giao có trách nhiệm làm đầu mối để tổng hợp các số liệu báo cáo của bộ ngành mình (theo biểu mẫu thống kê) theo từng lĩnh vực như: Xây dựng, ban hành văn bản; thẩm định; kiểm tra văn bản; phổ biến giáo dục pháp luật,…

Xét dưới dạng mục đích, thì những số liệu được trích xuất từ báo cáo thống kê sẽ được sử dụng làm cơ sở phân tích, chứng minh những luận điểm, nhận định của các báo cáo chuyên đề về công tác tư pháp (trong đó có lĩnh vực pháp chế).

Với những đặc điểm như vậy, nên trong lĩnh vực công tác tư pháp tuy các loại thông tin từ các loại báo cáo nói trên có thể bổ sung cho nhau, phục vụ lẫn nhau (nhất là các thông tin từ báo cáo thống kê phải phục vụ cho báo cáo chuyên đề), nhưng không thể nhập tất cả các nội dung có trong báo cáo thống kê (bằng số) và báo cáo chuyên đề (bằng chữ, có số liệu) vào trong cùng một báo cáo chung về công tác pháp chế  mà mỗi loại báo cáo phải đáp ứng yêu cầu riêng về nội dung, thời gian, thể thức. Vấn đề thể hiện nội dung thông tin – báo cáo dưới các dạng báo cáo khác nhau không phải là yêu cầu đặc thù của ngành Tư pháp mà cũng là yêu cầu thông tin báo cáo chung trong bộ máy hành chính, thể hiện trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của từng Bộ, ngành (theo quy định của pháp luật, Bộ Tư pháp cũng phải báo cáo các Bộ, ngành khác các loại báo cáo khác nhau như báo cáo chuyên đề, báo cáo thống kê,… do các Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định trên từng lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, ngành đó).

Hiện nay Bộ Tư pháp cũng đang nghiên cứu để cải tiến tối đa chế độ báo cáo thuộc thẩm quyền của Bộ, đảm bảo tăng cường tính hợp lý, tính khả thi của các báo cáo, hạn chế đến mức tối đa trùng chéo về nội dung yêu cầu báo cáo,…

4.2. Đối với việc báo cáo thống kê

Thông tư số 20/2013/TT-BTP ngày 03/12/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp quy định chế độ báo cáo thống kê đối với 20 lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, theo đó hàng năm các đơn vị thực hiện 3 lần báo cáo gồm: báo cáo 6 tháng phục vụ sơ kết; báo cáo năm lần 1 phục vụ tổng kết và báo cáo năm chính thức phục vụ tổng hợp số liệu theo quy định tại Quyết định số 15/2014/QĐ-TTg ngày 17/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, ngành nhằm đảm bảo số liệu thống kê phục vụ các chỉ tiêu thống kê quốc gia thuộc trách nhiệm thu thập của Bộ Tư pháp; phục vụ việc phổ biến thông tin thống kê trong ngành Tư pháp theo quy định tại Quyết định số 34/2013/QĐ-TTg ngày 04/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chính sách phổ biến thông tin thống kê nhà nước và phục vụ hoạt động chỉ đạo điều hành của Bộ Tư pháp. Việc quy định 3 lần báo cáo là quy định chung áp dụng cho 20 lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp.

Hàng năm, Bộ Tư pháp đều có chung công văn đôn đốc Bộ, ngành, địa phương tổng hợp số liệu theo quy định.  

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu điều chỉnh nâng mức chi cho công tác xây dựng văn bản QPPL, đồng thời bổ sung mục chi cho việc tham gia góp ý, xây dựng văn bản QPPL để phù hợp với thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng ý kiến tham gia của các cơ quan liên quan (Bộ Nội vụ).

Trả lời:

Ngày 14/7/2014, liên Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP thay thế Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 02/12/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Theo đó, Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP đã tăng định mức chi khoảng 50% cho các hoạt động có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã quy định tại Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP, xác định những nội dung chi thực sự cần thiết để tăng định mức chi, tác động tích cực đến tiến độ thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, có tác dụng động viên, khuyến khích đội ngũ CBCC có khả năng hoạch định chính sách như: soạn thảo đề cương, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật (không bao gồm thông tư, thông tư liên tịch); soạn thảo các báo cáo phục vụ công tác xây dựng văn bản và hoàn thiện hệ thống pháp luật (không bao gồm báo cáo đánh giá tác động, báo cáo tình hình thực thi pháp luật). Tăng thêm 43-52% tổng định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (trừ thông tư, thông tư liên tịch). Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP cũng đã quy định cụ thể các mức chi cho việc tham gia góp ý, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, theo đó các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này bao gồm cả Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP sẽ được rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Luật. Tuy nhiên theo Luật thì không còn hình thức Thông tư liên tịch giữa các Bộ. Vì vậy, Thông tư này sẽ do Bộ Tài chính xây dựng và ban hành theo thẩm quyền. Bộ Tư pháp ghi nhận kiến nghị nội dung trên của Bộ Nội vụ để kiến nghị với Bộ Tài chính, đồng thời đề nghị các Bộ, ngành có văn bản kiến nghị gửi Bộ Tài chính để đề xuất tăng định mức chi đối với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

VII. LĨNH VỰC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC

  1. Về biểu mẫu hộ tịch: Đề nghị Bộ Tư pháp thiết kế các biểu mẫu hộ tịch bản chính là phôi trắng (không in chữ) để có thể in trực tiếp các việc đăng ký hộ tịch từ phần mềm được thuận lợi (UBND tỉnh Cao Bằng).

Trả lời:

Để đảm bảo việc đăng ký hộ tịch bằng phần mềm được thuận lợi, Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch đã quy định Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ đăng ký khai sinh, Sổ đăng ký kết hôn, Sổ đăng ký khai tử do Bộ Tư pháp trực tiếp in và phát hành. Trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch đã ứng dụng công nghệ thông tin, có phần mềm đăng ký hộ tịch bảo đảm việc in nội dung thông tin hộ tịch trên Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn theo đúng tiêu chuẩn về kích thước, chi tiết kỹ thuật và được Bộ Tư pháp công nhận thì được cung cấp phôi Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn để tự in; phôi mẫu có in màu theo các mô tả chi tiết về hoa văn, họa tiết in chìm, có quốc hiệu, quốc huy và dòng chữ “Giấy khai sinh”/”Giấy chứng nhận kết hôn” tại mặt trước, phần còn lại không in chữ sẵn.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp cần tiếp tục quan tâm hơn nữa trong việc chủ trì hoặc phối hợp với các ngành có liên quan, tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời đối với các lĩnh vực công tác tư pháp ở địa phương nhất là lĩnh vực hộ tịch, chứng thực tránh chồng chéo, mâu thuẫn trong các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo (UBND tỉnh Đồng Tháp).

Trả lời:

Bộ Tư pháp tiếp thu và sẽ tăng cường hơn nữa trong việc phối hợp với các ngành có liên quan để hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời và thống nhất đối với công tác tư pháp ở địa phương, đặc biệt là trong quá trình triển khai thi hành các quy định pháp luật về hộ tịch, chứng thực.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải tại Thông báo số 347/TB-VPCP ngày 27/8/2014 của Văn phòng Chính phủ về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, Bộ Tư pháp đã có 02 Công văn hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất (Công văn số 4800/BTP-BTTP ngày 21/11/2014 và Công văn số 2271/BTP-BTTP ngày 29/6/2015).  Thực hiện Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 01/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ về “đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường”, đồng thời để trả lời vướng mắc phát sinh liên quan đến vấn đề này mà vừa qua Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu các Bộ liên quan tháo gỡ. Sau khi trao đổi với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Văn phòng Chính phủ, ngày 16/11/2015 Bộ Tư pháp đã có Công văn số 4233/BTP-BTTP ngày 16/11/2015 gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn thẩm quyền về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở.

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Bộ Công an để thực hiện việc kết nối phần mềm đăng ký khai sinh với phần mềm cấp số định danh cá nhân bảo đảm việc cấp số định danh cá nhân cho công dân khi đăng ký khai sinh theo quy định của Luật hộ tịch, Luật căn cước công dân, Bộ Tư pháp cũng đang phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, góp phần bảo đảm triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất Luật hộ tịch, Luật hôn nhân và gia đình.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tổ chức hội nghị chuyên đề để triển khai Luật hộ tịch; thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trong lĩnh vực hành chính tư pháp cho đội ngũ công chức, viên chức nhằm nâng cao kỹ năng và trình độ nghiệp vụ (UBND tỉnh, thành phố Đà Nẵng, Khánh Hòa, Sơn La).

Trả lời:

Theo Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 15/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 17/7/2015, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai thi hành Luật hộ tịch theo hình thức trực tuyến tại 63 điểm cầu. Tại hội nghị, Bộ Tư pháp đã giới thiệu những nội dung cơ bản và điểm quan trọng của Luật hộ tịch; đại diện Sở Tư pháp các địa phương đã báo cáo về tình hình triển khai và các giải pháp nhằm đảm bảo thi hành hiệu quả Luật hộ tịch; nêu những thuận lợi và khó khăn, khi thực hiện Luật. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo khác để triển khai thi hành Luật hộ tịch tại một số địa phương.

Thực hiện kế hoạch triển khai thi hành Luật hộ tịch, Bộ Tư pháp đã tổ chức 03 lớp tập huấn nghiệp vụ hộ tịch cho trên 800 công chức làm công tác hộ tịch tại UBND cấp huyện, Sở Tư pháp tại 03 miền Bắc, Trung, Nam. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp, các Phòng Tư pháp sẽ triển khai tập huấn cho công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã.

Cùng với đó, Bộ Tư pháp đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho công chức Tư pháp – Hộ tịch tại các xã địa bàn huyện 30a (tại Ninh Thuận, Bắc Kạn, Lào Cai). Theo nội dung của kế hoạch, các địa phương cần chủ động đào tạo, đào tạo lại công chức làm công tác hộ tịch bảo đảm tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ; công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác này sẽ được tiến hành thường xuyên. Bộ Tư pháp đang xây dựng khung chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch theo yêu cầu của địa phương.

Dự kiến trong năm 2016, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục triển khai những hoạt động có liên quan đến việc triển khai thi hành Luật hộ tịch.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu cho Chính phủ sớm ban hành Nghị định về cơ sở dữ liệu về hộ tịch để địa phương triển khai thực hiện kịp thời; đồng thời, đẩy nhanh tiến độ xây dựng phần mềm dùng chung về cơ sở dữ liệu đăng ký và quản lý hộ tịch để triển khai thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả công tác này (UBND tỉnh Tuyên Quang, Quảng Trị).

Trả lời:

Theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật hộ tịch ban hành kèm theo Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 15/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng Nghị định quy định về việc quản lý, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; thủ tục đăng ký hộ tịch trực tuyến. Dự kiến thời gian hoàn thành trước ngày 01/01/2020. Hiện tại, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc trình Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý về chủ trương xây dựng Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt và chỉ đạo thực hiện Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 12/11/2015, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 2173/QĐ-BTP phê duyệt Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc.

Thời gian tới đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường phối hợp với Bộ Tư pháp để triển khai xây dựng Dự án khả thi Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc để sớm hoàn thành, đưa vào vận hành, sử dụng, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc và phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp đẩy nhanh tiến độ tham mưu Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch vì Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2016, nếu chậm trễ sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đối với người dân (UBND thành phố Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Thực hiện nhiệm vụ Luật hộ tịch giao, Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch. Ngày 16/11/2015, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định chi tiết một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch. Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật hộ tịch đã được ban hành bảo đảm đúng tiến độ theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật hộ tịch ban hành kèm theo Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 15/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu để có phương án hỗ trợ kinh phí cho tỉnh Quảng Trị nhằm thực hiện Đề án thực hiện Thỏa thuận giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHDCND Lào về việc giải quyết vấn đề người di cư tự do, kết hôn không giá thú trong vùng biên giới hai nước (UBND tỉnh Quảng Trị).

Trả lời:

Căn cứ Quyết định số 2627/QĐ-TTg ngày 31/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai Đề án thực hiện “Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc giải quyết vấn đề di cư tự do và kết hôn không giá thú trong vùng biên giới giữa hai nước”, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án. Kinh phí hoạt động sẽ được ngân sách nhà nước cấp và phân bổ cho từng nhiệm vụ hoạt động của Kế hoạch đã được ban hành, Bộ Tư pháp không có thẩm quyền xem xét, cấp hoặc bổ sung kinh phí cho địa phương. Vì vậy, Bộ Tư pháp đề nghị UBND tỉnh Quảng Trị chỉ đạo cơ quan tham mưu xây dựng phương án và đề nghị Bộ Tài chính cân đối ngân sách cấp bổ sung kinh phí để tiếp tục triển khai Kế hoạch.

         VIII. LĨNH VỰC BỔ TRỢ TƯ PHÁP

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với các Bộ Tài chính, Tài nguyên và Môi trường thống nhất việc xác định giá khởi điểm trong hoạt động bán đấu giá quyền sử dụng đất vì hiện nay việc xác định giá khởi điểm quy định tại 02 Thông tư không thống nhất gây khó khăn trong việc áp dụng văn bản pháp luật tại địa phương (Điều 05 Thông tư số 48/2012/TT-BTP ngày 16/3/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất quy định: Sở Tài chính phối hợp với các Sở, ngành có liên quan xác định giá khởi điểm để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định. Điều 09 Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP ngày 04/4/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp quy định việc tổ chức thực hiện quyền đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất quy định: Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện việc xác định giá khởi điểm của thửa đất đấu giá) (UBND tỉnh Cao Bằng).

Trả lời:

Liên quan đến những khó khăn, vướng mắc trong việc xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất giữa 02 Thông tư trên, trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã chủ động tiến hành rà soát các quy định của văn bản pháp luật có liên quan, đồng thời, tổ chức các cuộc họp với Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan, ban, ngành có liên quan để trao đổi, thảo luận nhằm làm rõ cơ sở pháp lý, những vướng mắc cụ thể phát sinh và giải pháp tháo gỡ vấn đề nêu trên. Sau khi trao đổi, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thống nhất như sau:

– Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tiếp tục rà soát các quy định của Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP và Thông tư số 02/2015/TT-BTC, qua đó, xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định của 02 Thông tư nói trên để đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai hiện hành.

– Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP; Bộ Tài chính  xem xét, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2015/TT-BTC về việc xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất, đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với quy định của pháp luật. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP, đồng thời Bộ Tư pháp sẽ chủ động, tích cực trong việc phối hợp tham gia ý kiến đối với việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2015/TT-BTC.

Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần nghiên cứu đưa các nội dung liên quan đến việc xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất vào quy định tại Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP để tạo cơ sở cho Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn theo đúng thẩm quyền được quy định.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu ban hành Luật bán đấu giá tài sản để việc triển khai công tác bán đấu giá tài sản đồng bộ, có hiệu quả (UBND tỉnh Cao Bằng).

Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các ngành có liên quan ban hành văn bản hướng dẫn, triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản, đảm bảo thực hiện theo một cơ chế thống nhất, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và quy định chế tài nghiêm khắc đối với các trường hợp vi phạm (UBND tỉnh Quảng Bình).

Trả lời:

Thực hiện Nghị quyết số 70/2014/QH13 ngày 30/5/2014 của Quốc hội và sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và cơ quan liên quan xây dựng dự án Luật đấu giá tài sản. Dự án Luật đấu giá tài sản đã được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 cho ý kiến và nhận được đa số ý kiến tán thành về sự cần thiết ban hành, bố cục và nội dung cơ bản của dự án Luật. Hiện nay, Chính phủ đã có Tờ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc đề xuất đưa dự án Luật vào Chương trình thông qua tại kỳ họp Quốc hội tháng 3/2016.

Mục tiêu xây dựng Luật đấu giá tài sản nhằm tạo cơ sở pháp lý ổn định, thống nhất, lâu dài theo hướng chuyên nghiệp hóa, xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động đấu giá tài sản; xây dựng trình tự, thủ tục đấu giá tài sản áp dụng thống nhất cho các loại tài sản đấu giá trên cơ sở kế thừa, luật hóa các quy định còn phù hợp của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP; khắc phục những tồn tại, bất cập của hoạt động đấu giá tài sản hiện nay, đảm bảo tính công khai, minh bạch, khách quan; nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp, tăng cường trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên, doanh nghiệp đấu giá tài sản. Đặc biệt, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản đã được quy định chặt chẽ hơn, đảm bảo việc bán đấu giá tài sản được công khai, minh bạch, khách quan, hạn chế tối đa tình trạng tham gia đấu giá để trục lợi, tình trạng ”quân xanh, quân đỏ” thông đồng, móc nối để dìm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá, đồng thời, quy định rõ hơn trách nhiệm của người có tài sản trong việc tổ chức bán đấu giá tài sản, nhất là bán tài sản nhà nước. Bên cạnh đó, để có chế tài xử lý mạnh mẽ hơn đối với hành vi thông đồng, dìm giá trong hoạt động đấu giá tài sản, Bộ Luật hình sự (sửa đổi) vừa được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua cũng đã quy định hành vi thông đồng, dìm giá trong hoạt động bán đấu giá tài sản sẽ cấu thành tội phạm thay vì chỉ bị xử lý hành chính như hiện nay.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp ban hành quy định về cơ chế liên thông, sự phối kết hợp giữa các Bộ, ngành nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động công chứng, tránh chồng chéo, mâu thuẫn trong các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo (UBND tỉnh Đồng Tháp, Cao Bằng).

Trả lời: 

Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính và các cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu xây dựng Thông tư liên tịch quy định cơ chế liên thông thủ tục công chứng, đăng ký quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và thuế (theo đó, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính là đơn vị đầu mối của Bộ trong việc phối hợp với các Bộ, ngành trong việc xây dựng Thông tư này).

Bên cạnh đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, trên cơ sở phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 4233/BTP-BTTP ngày 16/11/2015 gửi Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc công chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch thực hiện các quyền của người sử dụng đất.

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc trong hoạt động công chứng theo thẩm quyền.

  1. Hiện nay, các chức danh tư pháp như chấp hành viên, trợ giúp viên, công chứng viên có quy định phụ cấp nghề, thâm niên. Tuy nhiên, đối với chức danh đấu giá viên thì không quy định. Do đó, đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu bổ sung chức danh đấu giá viên được hưởng phụ cấp nghề, thâm niên như các chức danh tư pháp khác (UBND tỉnh Cao Bằng, thành phố Đà Nẵng).

Trả lời:

Hiện nay đấu giá viên đang làm việc tại các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá là đơn vị sự nghiệp hoạt động theo quy định của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 05/4/2006 của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập được thay thế bởi Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, quy định việc giao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp công, quy định cơ chế để sự nghiệp công vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong hoạt động bán đấu giá tài sản, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP quy định Sở Tư pháp có nhiệm vụ xây dựng Đề án chuyển đổi Trung tâm dịch vụ bán đấu giá sang mô hình doanh nghiệp đối với các tỉnh, thành phố có từ 02 doanh nghiệp đấu giá trở lên, trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt. Chủ trương xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bán đấu giá tài sản cũng đang được cụ thể hóa trong Dự án Luật đấu giá tài sản. Do đó, về vấn đề chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ đấu giá viên, trong quá trình xây dựng Dự án Luật đấu giá, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục nghiên cứu đảm bảo phù hợp với chủ trương xã hội hóa hoạt động bán đấu giá và thực tiễn hoạt động đấu giá tại địa phương.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu để có chiến lược phát triển lâu dài đội ngũ luật sư công có trình độ cao (Bộ Công thương).

Trả lời:

Vấn đề luật sư công đã được đặt ra từ khi soạn thảo Luật luật sư năm 2006 dưới hình thức là luật sư làm việc cho cơ quan nhà nước theo chế độ công chức, làm việc cho tổ chức trợ giúp pháp lý theo chế độ viên chức. Tuy nhiên, trong quá trình Quốc hội thảo luận thông qua Dự án Luật, đa số các ý kiến không nhất trí với quy định này và đề nghị đưa ra khỏi Dự án Luật để đảm bảo tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề luật sư. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật luật sư năm 2012 cũng không đặt ra vấn đề xây dựng đội ngũ luật sư công.

Để giải quyết vấn đề về luật sư công, Luật luật sư năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật luật sư năm 2012 đưa ra quy định về hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, theo đó, luật sư có thể làm việc cho cơ quan, tổ chức theo hợp đồng lao động; quy định về nghĩa vụ trợ giúp pháp lý miễn phí của luật sư và quy định về việc luật sư tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng (án chỉ định). Bên cạnh đó, Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 đã quy định chức danh Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước ở các địa phương.

Hiện nay, các Bộ, ngành đều có bộ phận pháp chế để tư vấn, tham mưu về mặt pháp lý, các chủ trương, chính sách, đề án, văn bản. Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế cũng quy định “Tổ chức pháp chế ở doanh nghiệp nhà nước là đơn vị chuyên môn, có chức năng tham mưu, tư vấn cho Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp về những vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp”.

Đối với những vụ, việc cần tư vấn pháp lý chuyên sâu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Đào tạo chuyên gia pháp luật, luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2008 – 2010” (Quyết định số 544/QĐ-TTg ngày 14/5/2008) và Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020” (Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 18/01/2010). Mục tiêu của hai Đề án này là đào tạo đội ngũ luật sư phục vụ các công việc liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế theo yêu cầu của Chính phủ (tư vấn về hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật…).

Hiện nay, Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối triển khai các Đề án nêu trên và Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 nhằm phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam cả về số lượng và chất lượng phục vụ nhu cầu chung của xã hội và các công việc của nhà nước sử dụng luật sư.

Xuất phát từ các lý do nêu trên, Bộ Tư pháp thấy rằng việc xây dựng một Chiến lược, Đề án riêng về luật sư công là không cần thiết và không phù hợp với định hướng xã hội hoá hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung, xã hội hoá hoạt động luật sư nói riêng cũng như những định hướng Chiến lược và các Đề án đào tạo luật sư mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, bán đấu giá tài sản cho đội ngũ công chức, viên chức nhằm nâng cao kỹ năng và trình độ nghiệp vụ (UBND tỉnh Khánh Hòa).

Trả lời:

Thời gian qua, triển khai Đề án “phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 – 2015, định hướng đến năm 2020”, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức 06 lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng cần thiết trong hoạt động bán đấu giá tài sản tại tỉnh Ninh Bình, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đắk Lắk cho đội ngũ đấu giá viên và các cán bộ làm công tác quản lý về bổ trợ tư pháp tại các địa phương.

Thời gian tới, trên cơ sở đánh giá nhu cầu thực tiễn của đấu giá viên, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục tổ chức một số lớp bồi dưỡng đối với đấu giá viên trên phạm vi cả nước. Bên cạnh đó, đề nghị địa phương cũng cần chủ động hơn trong việc đào tạo, nâng cao năng lực đấu giá viên của địa phương mình đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động này.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Liên đoàn Luật sư Việt Nam để xem xét, đưa Đoàn Luật sư cấp tỉnh vào danh sách Hội đặc thù để có điều kiện hoạt động nghề nghiệp và thực hiện các công việc mà địa phương yêu cầu; hỗ trợ việc đào tạo nghề, kiểm tra hết tập sự cho Đoàn Luật sư thuộc các tỉnh khó khăn; có kế hoạch bồi dưỡng chuyên đề cho luật sư kỹ năng xử lý vụ án hành chính, kinh tế quốc tế (UBND tỉnh Quảng Trị).

Trả lời:

Trên cơ sở Kết luận số 102-KL/TW và Công văn số 226-CV/TW ngày 10/8/2015 của Ban Chấp hành Trung ương về việc thực hiện Kết luận số 102-KL/TW ngày 22/9/2014 thông báo kết luận của Bộ Chính trị về Hội quần chúng, Bộ Tư pháp thấy rằng, hiện nay, dự thảo Luật về hội do Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng đã đưa ra chính sách bảo đảm hỗ trợ phát triển đối với các hội theo hướng, đối với các hội do Đảng, Nhà nước có nhu cầu thành lập và đã được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được Nhà nước cấp, khoán kinh phí hoạt động và ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ cho các nhiệm vụ do Nhà nước giao. Nội dung này sẽ được cụ thể hóa tại Nghị định hướng dẫn thi hành Luật về hội. Kết luận số 102-KL/TW cũng đã nêu rõ “không quy định hội có tính chất đặc thù”. Như vậy, dự thảo các văn bản Luật về hội hiện nay đã gắn tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư là một trong những đối tượng được hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục theo dõi, phối hợp với các Bộ, ngành đề xuất Chính phủ tiếp tục quan tâm, chỉ đạo xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật về hội theo định hướng nêu trên, đồng thời hướng dẫn cụ thể nội dung này trong Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật về hội sau khi Luật được Quốc hội thông qua để bảo đảm tính khả thi của chính sách cũng như tạo điều kiện cho tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.

  1. LĨNH VỰC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
  2. Đề nghị Bộ Tư pháp quan tâm mở lớp tập huấn bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức pháp luật cho đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao hơn nữa vai trò nòng cốt của lực lượng này trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (UBND tỉnh Bạc Liêu).

Trả lời:

Chương III Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định cụ thể trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) của các cơ quan, tổ chức, trong đó, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm “tập huấn, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật; thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật theo quy định của pháp luật”. Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL; chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước về công tác này.

Thời gian qua, Bộ Tư pháp đã quan tâm tổ chức nhiều hoạt động tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng PBGDPL cho đội ngũ làm công tác PBGDPL (báo cáo viên pháp luật Trung ương, cán bộ pháp chế các Bộ, ngành, báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, giảng viên dạy môn pháp luật, giáo viên dạy môn giáo dục công dân, cán bộ quản lý giáo dục). Đây được coi là một nhiệm vụ quan trọng, có tính chất hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác PBGDPL để đội ngũ này về triển khai tập huấn, bồi dưỡng trong ngành, lĩnh vực, địa phương.

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chú trọng bồi dưỡng kỹ năng PBGDPL, nhất là cho các đối tượng đặc thù; tăng cường trao đổi kinh nghiệm, hướng dẫn, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn triển khai công tác PBGDPL.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tổng kết, rút kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình hay, hiệu quả trong công tác PBGDPL để các địa phương học tập, làm theo (UBND tỉnh Bạc Liêu).

Trả lời:

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về PBGDPL, thời gian qua Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo, tọa đàm để tổng kết, rút kinh nghiệm, qua đó đã phát hiện, hướng dẫn nhân rộng một số mô hình hay, hình thức PBGDPL có hiệu quả, cách làm sáng tạo, đổi mới trong PBGDPL. Vấn đề này cũng đã được Bộ Tư pháp theo dõi và ghi nhận trong báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo PBGDPL thực hiện các chương trình PBGDPL theo giai đoạn trình Chính phủ.

Tuy nhiên, thực tế hoạt động tổng kết chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc phát hiện và đề cập trong báo cáo, nhiều mô hình chưa có những nghiên cứu chuyên sâu để đúc rút cũng như kiểm nghiệm về tính hiệu quả trên thực tế. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp dự kiến sẽ có những hoạt động khảo sát thực tế, nghiên cứu đánh giá, hướng dẫn đưa vào thực hiện thí điểm một số mô hình có hiệu quả đã và đang được triển khai, từ đó hướng dẫn nhân rộng trong cả nước.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp xem xét hỗ trợ kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật từ ngân sách Trung ương cho tỉnh theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 của Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP (UBND tỉnh Bạc Liêu).

Đề nghị Bộ Tư pháp quan tâm, hỗ trợ kinh phí cho công tác PBGDPL của các tỉnh nghèo, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, ngân sách địa phương thu không đủ bù chi mà do Trung ương hàng năm hỗ trợ là chủ yếu (UBND tỉnh Cao Bằng, Quảng Trị).

       Đề nghị Bộ Tư pháp cấp bù kinh phí cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và Luật hòa giải ở cơ sở (UBND tỉnh Tuyên Quang).

Trả lời:

Điều 39 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định việc ngân sách trung ương hỗ trợ kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Cụ thể hóa Điều luật này, khoản 2, Điều 2 Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP đã quy định một số hoạt động PBGDPL trọng tâm, trọng điểm cụ thể sẽ được ngân sách Trung ương hỗ trợ kinh phí để thực hiện nhiệm vụ PBGDPL cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Tuy nhiên, thực tế là việc dành kinh phí cho công tác PBGDPL phụ thuộc vào điều kiện ngân sách ở từng cơ quan, tổ chức, địa phương và đây được coi là một trong những rào cản của công tác PBGDPL.

Đối với kinh phí PBGDPL do ngân sách Trung ương hỗ trợ cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, ngay trong năm đầu tiên triển khai Luật PBGDPL, Bộ Tư pháp đã hướng dẫn các địa phương lập dự toán, tổng hợp dự toán và gửi Bộ Tài chính đề nghị xem xét cân đối, tổng hợp trình cơ quan có thẩm quyền bổ sung theo quy định. Tuy nhiên, căn cứ vào Luật ngân sách nhà nước, trong hai năm 2015 và 2016, Bộ Tài chính đều có văn bản hướng dẫn, đề nghị các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách tự bố trí kinh phí cho công tác PBGDPL và hòa giải ở cơ sở trong phạm vi ngân sách được Trung ương giao (Khoản 2 Điều 3, Thông tư số 211/2014/TT-BTC ngày 30/12/2014 quy định về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2015; Điểm h, Khoản 2 Điều 11 Thông tư số 102/2015/TT-BTC ngày 30/6/2015 hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2016). Căn cứ vào hướng dẫn của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp cũng đã có Công văn số 233/BTP-KHTC ngày 23/01/2015 và Công văn số 2493/BTP-PBGDPL ngày 14/7/2015 gửi UBND cấp tỉnh đề nghị bố trí kinh phí hoặc hướng dẫn việc lập dự toán kinh phí bảo đảm cho công tác PBGDPL và hòa giải ở cơ sở. Vì vậy, đề nghị Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính căn cứ vào các văn bản và hướng dẫn trên đây để triển khai thực hiện; kịp thời tham mưu, kiến nghị Hội đồng nhân dân, UBND cấp tỉnh bố trí kinh phí bảo đảm cho hai lĩnh vực công tác này. Nếu địa phương chưa được bố trí hoặc có khó khăn, vướng mắc, vấn đề mới phát sinh, đề nghị tiếp tục phản ánh về Bộ Tư pháp để tổng hợp, phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có giải pháp tháo gỡ kịp thời; đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến thời kỳ ổn định ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 – 2020 của địa phương để thực hiện tốt các văn bản trên đây.

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cũng sẽ quan tâm, xem xét, tranh thủ nguồn lực từ các Chương trình, Đề án về PBGDPL để có thể có sự hỗ trợ cụ thể, cần thiết cho các tỉnh còn khó khăn nêu trên, góp phần khắc phục khó khăn hiện tại của địa phương trong công tác PBGDPL.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp, Ban Tuyên giáo Trung ương tiếp tục đa dạng các tài liệu tuyên truyền về Hiến pháp năm 2013 để báo cáo viên, tuyên truyền viên cập nhật, nghiên cứu và sử dụng làm tài liệu tuyên truyền đến cán bộ, nhân dân ở cơ sở tốt hơn (UBND tỉnh Hải Dương).

Trả lời:

Thời gian vừa qua, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và các Bộ, ngành liên quan tổ chức nhiều hình thức phổ biến, giới thiệu Hiến pháp năm 2013, trong đó có biên soạn, phát hành tài liệu giới thiệu nội dung Hiến pháp[4].

Vừa qua, Bộ Tư pháp đã tham mưu với Chính phủ tổ chức thành công Cuộc thi viết tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhiều bài dự thi đạt chất lượng. Sau khi cuộc thi kết thúc, Bộ Tư pháp đã có văn bản gửi Ban Tổ chức cuộc thi Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ban Tổ chức các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc lưu trữ, sử dụng những bài dự thi đạt chất lượng gửi về Trung ương để phổ biến trong nhân dân. Bộ Tư pháp cũng đã có kế hoạch lưu trữ những bài dự thi đạt giải cao, chất lượng tốt để làm tài liệu để báo cáo viên pháp luật tham khảo, phục vụ cho công tác xây dựng tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn.

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp tiếp tục tổ chức biên soạn tài liệu giới thiệu nội dung Hiến pháp năm 2013 bằng nhiều hình thức thiết thực, phù hợp với từng đối tượng để không chỉ phục vụ công tác của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật mà còn phổ biến đến đông đảo cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân; đưa nội dung tài liệu này lên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để giúp các Bộ, ngành, địa phương, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật khai thác, sử dụng.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật một cách rộng rãi, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp và bộ phận quần chúng ít có điều kiện, khả năng cập nhật chính sách pháp luật của Nhà nước một cách thường xuyên (Bộ Công thương).

Trả lời:

Trong thời gian qua, việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, tôn trọng trật tự, kỷ luật, kỷ cương là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước dành nhiều sự quan tâm, coi trọng và chỉ đạo sát sao. Để hoàn thành mục tiêu này, Lãnh đạo Đảng và Nhà nước luôn đề cao và nhấn mạnh vị trí và vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành Tư pháp: Muốn nâng cao hiệu quả của công tác thi hành pháp luật “phải nâng cao hơn nữa hiệu quả tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, coi đây là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị tư tưởng, là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, với mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ và tạo điều kiện để mọi cá nhân, tổ chức có ý thức chấp hành đúng pháp luật.”. Với định hướng này, trong quá trình triển khai công tác PBGDPL, Bộ Tư pháp đã cố gắng nghiên cứu, tìm ra các hình thức, phương pháp phù hợp để đưa pháp luật đến mọi người dân, doanh nghiệp.

Tuy nhiên, nghiêm túc nhìn lại hiệu quả công tác PBGDPL thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quyền tiếp cận thông tin (trong đó có thông tin pháp luật) của công dân, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật xác định 06 nhóm đối tượng đặc thù cần quan tâm PBGDPL, trong đó có người lao động trong các doanh nghiệp và một số đối tượng khác ít có điều kiện tiếp cận, cập nhật chính sách, pháp luật (người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật…), Bộ Tư pháp có chủ trương đẩy mạnh và đổi mới căn bản phương thức PBGDPL, tập trung vào những vấn đề sau:

– Thứ nhất, rà soát, đánh giá thực tiễn thi hành thể chế về PBGDPL để nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung thể chế không còn phù hợp; quan tâm tổng kết, nhân rộng các mô hình hay, hình thức PBGDPL mới, hiệu quả để các Bộ, ngành, địa phương thực hiện.

– Thứ hai, nâng cao chất lượng tư vấn của Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp; lựa chọn, xác định tư vấn thực hiện nhiệm vụ PBGDPL có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng đối tượng. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan thường trực Hội đồng và Ban Thư ký trong việc tham mưu giúp Hội đồng và từng thành viên Hội đồng triển khai nhiệm vụ được giao; tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương trong triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác PBGDPL.

– Thứ ba, tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác PBGDPL, nhất là đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật có kiến thức pháp luật, có kỹ năng PBGDPL phù hợp với từng đối tượng nêu trên.

– Thứ tư, phổ biến, giới thiệu mục tiêu, quan điểm, chính sách mới trong dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trực tiếp đến đối tượng; những vấn đề pháp lý mà đối tượng quan tâm bằng hình thức phù hợp, chú trọng việc trao đổi thông tin; đối thoại chính sách với cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL.

– Thứ năm, bố trí kinh phí PBGDPL phù hợp cho các đối tượng; hỗ trợ, lồng ghép nhiệm vụ PBGDPL cho những đội tượng này trong các Đề án PBGDPL; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ, tham gia công tác PBGDPL.

 – Thứ sáu, ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật làm thước đo kiểm tra, giám sát hoạt động này tại các Bộ, ngành, địa phương.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp xây dựng Chương trình tổng thể về phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2016 – 2020, trong đó có các tiểu đề án (Bộ Lao động Thương binh – Xã hội).

Trả lời:

Ngày 11/11/2015, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch số 221-KH/BCS triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành Tư pháp và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất, trong đó xác định Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội tham mưu giúp Thủ tướng Chính phủ xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ giai đoạn 2016 – 2020. Việc xây dựng Chương trình cũng đã được Văn phòng Chính phủ đưa vào dự kiến Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 5/2016.

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương sơ kết 3 năm thực hiện Luật PBGDPL và tổng kết Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 về ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI). Trên cơ sở kết quả sơ kết Luật, tổng kết Quyết định số 409/QĐ-TT và các Đề án được ban hành kèm theo Quyết định số 409/QĐ-TTg của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, xem xét về sự cần thiết để đề xuất Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các Đề án về PBGDPL theo giai đoạn bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tránh trùng lắp

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành liên quan tăng cường sự gắn kết, thường xuyên phối hợp để Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện có kết quả cao trong công tác tư pháp, nhất là trong công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật (Đài Tiếng nói Việt Nam).

Trả lời:

Bộ Tư pháp xác định báo chí nói chung, Đài Tiếng nói Việt Nam nói riêng là phương tiện PBGDPL có hiệu quả. Chính vì vậy, trong thời gian qua, Bộ đã hỗ trợ, phối hợp với Hệ Thời sự – Chính trị – Tổng hợp của Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện các chương trình về PBGDPL cho một số đối tượng như: đồng bào dân tộc thiểu số, thanh niên, phụ nữ; phổ biến pháp luật về phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma túy, phòng chống tham nhũng…

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Đài Tiếng nói Việt Nam để tăng cường thời lượng, nâng cao chất lượng các chương trình phổ biến kiến thức pháp luật trên sóng phát thanh của Đài.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn và cung cấp các tài liệu để việc tuyên truyền pháp luật trên các kênh sóng của Đài Truyền hình Việt Nam được bám sát với các yêu cầu của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật Trung ương (Đài Truyền hình Việt Nam).

Trả lời:

Thực hiện chức năng giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác PBGDPL, hàng năm, Bộ Tư pháp đều ban hành Kế hoạch về công tác PBGDPL hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai công tác PBGDPL. Để bảo đảm chất lượng và định hướng phổ biến, Bộ Tư pháp đã  tổ chức biên soạn và phát hành miễn phí cho các Bộ, ngành, địa phương nhiều tài liệu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật dưới các hình thức như: Đề cương giới thiệu các luật, pháp lệnh mới, đặc san tuyên truyền pháp luật, sách pháp luật, sổ tay pháp luật, tình huống pháp luật, hỏi đáp pháp luật, câu chuyện pháp luật dưới dạng video clips….., đồng thời được đăng tải trên Trang thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn/pbgdpl/Pages/Default.aspx) để phục vụ nhu cầu PBGDPL, tìm hiểu pháp luật của cán bộ, nhân dân. Do vậy, Đài Truyền hình Việt Nam có thể khai thác tài liệu pháp luật phục vụ công tác tuyên truyền pháp luật trên các kênh sóng của Đài truyền hình Việt Nam.

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã hỗ trợ, phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam (VTV1, VTV2) thực hiện các phóng sự, tọa đàm, chương trình về PBGDPL về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ và sẽ tiếp tục phối hợp với Đài trong công tác PBGDPL thời gian tới.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phối hợp với Ủy ban Dân tộc trong quá trình xây dựng và thực hiện Đề án Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho cán bộ làm công tác dân tộc, đồng bào thiểu số, đồng bào vùng biên giới, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn” giai đoạn 2017 – 2021 (Ủy ban Dân tộc).

Trả lời:

Thời gian vừa qua, Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Dân tộc trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình phối hợp số 1249a/CTPH-UBDT-BTP ngày 13/11/2014 của Ủy ban Dân tộc và Bộ Tư pháp về phối hợp công tác giai đoạn 2014 – 2020. Năm 2015, thực hiện nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 04/12/2013 ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Bộ đã cử 01 đồng chí lãnh đạo cấp Vụ tham gia thành viên Ban Chỉ đạo và 01 đồng chí lãnh đạo cấp Phòng tham gia thành viên Tổ Thư ký xây dựng Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng biên giới, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn”.

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp tiếp tục quan tâm, phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Dân tộc trong tổ chức triển khai Đề án này sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, bảo đảm hiệu quả, chất lượng.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp ban hành kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ đầu năm, hạn chế phát sinh công việc ngoài chương trình – kế hoạch (UBND thành phố Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Để bảo đảm công tác PBGDPL có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ trên toàn quốc, hàng năm, Bộ Tư pháp đều ban hành Kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương; tham mưu với Hội đồng phối hợp PBGDPL Trung ương ban hành Kế hoạch hoạt động của Hội đồng. Thời gian gần đây, Bộ đã sớm xây dựng, ban hành các Kế hoạch này để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các Bộ, ngành, địa phương trong hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện công tác PBGDPL[5]. Các nhiệm vụ PBGDPL trong toàn Ngành trong năm đều đã được xác định cụ thể trong Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước, yêu cầu công tác quản lý nhà nước và thực tiễn công tác thi hành pháp luật, thời gian qua, cũng có một số nhiệm vụ phát sinh trong thực tế như: phổ biến nội dung các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia… Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ quan tâm hơn đến tiến độ, chất lượng xây dựng Kế hoạch, tăng tính dự báo các nhiệm vụ để hạn chế phát sinh các nhiệm vụ.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu để các Chương trình, Đề án, Kế hoạch của Trung ương về phổ biến, giáo dục pháp luật cần quy định phân biệt rõ việc sử dụng kinh phí ngoài khoán và kinh phí thường xuyên (trong khoán), tránh quy định chung chung như hiện nay để đảm bảo tiến độ, chất lượng, hiệu quả công việc (UBND thành phố Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Kinh phí thực hiện công tác PBGDPL được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/01/2014 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác PBGDPL và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở. Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác PBGDPL và chuẩn tiếp cận pháp luật.

Trong thực tiễn triển khai các Chương trình, Đề án, có những hoạt động PBGDPL có tính thường xuyên, với đối tượng, phạm vi theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, nhưng cũng có những hoạt động PBGDPL có phạm vi rộng, có tính trọng tâm, trọng điểm nhằm tăng cường chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa, cần được bố trí kinh phí bổ sung ngoài kinh phí thường xuyên của cơ quan, tổ chức. Vì vậy, về đề xuất của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, trong quá trình tổng kết việc thực hiện các Đề án về PBGDPL vào năm 2016 và tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình PBGDPL giai đoạn 2016 – 2020, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, có hướng để tham mưu, đề xuất quy định này trong các Đề án (nếu có) trong Chương trình. Bên cạnh đó, đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với Sở Tài chính tổ chức triển khai các Đề án để bố trí kinh phí theo hướng phân biệt rõ việc sử dụng kinh phí ngoài khoán và kinh phí thường xuyên để đảm bảo việc thực hiện Đề án hiệu quả, thiết thực.

  1. Cần sửa đổi Thông tư liên tịch số 03 để quy định cụ thể hơn trình tự, thủ tục xây dựng hương ước, quy ước vì một số nội dung trong Thông tư không còn phù hợp và nhiều quy định chưa cụ thể rõ ràng. Ví dụ trong phần III quy định trình tự thủ tục soạn thảo và thông qua quy ước: Hương ước gửi lên UBND cấp huyện phê duyệt phải có Công văn đề nghị của UBND cấp xã, nhưng theo quy định hiện hành phải là Tờ trình chứ không phải là Công văn. Trong phàn IV quy định Phòng Tư pháp có trách nhiệm xem xét tính hợp pháp của quy ước nhưng phần III không đề cập đến trình tự phải gửi hương ước, quy ước đến Phòng Tư pháp thẩm định và không quy định thời gian thẩm định bao lâu? Cơ quan nào có trách nhiệm gửi đến Phòng Tư pháp…(UBND tỉnh Bạc Liêu).

Trả lời:

Để đánh giá khách quan, toàn diện kết quả đạt được và những hạn chế, vướng mắc, bất cập trong công tác xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước thời gian qua trên cả nước, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành và tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch phối hợp khảo sát, đánh giá tình hình xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, khu dân cư (Kế hoạch số 856/KH-BTP-BVHTTDL-BTTUBTWMTTQVN ngày 23/3/2015). Một trong những hoạt động của Kế hoạch là tổ chức rà soát, đánh giá các văn bản pháp luật quy định về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước để có giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách về công tác này.

Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tư pháp, các địa phương đã tiến hành đánh giá tình hình thi hành pháp luật và thực trạng xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước tại địa phương. Báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi về Bộ Tư pháp đã phản ánh cụ thể những vướng mắc, bất cập, những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước nói chung và trong các quy định pháp luật hiện hành về hương ước, quy ước nói riêng.

Trên cơ sở Báo cáo của các địa phương và thông tin thu được từ các hoạt động khảo sát, kiểm tra, Hội thảo, Tọa đàm chuyên đề, hiện Bộ Tư pháp đang tổng hợp, xây dựng Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về thực trạng xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước trên cả nước, trong đó đề xuất, kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ các giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác này trong thời gian tới (đề xuất ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước) nhằm khắc phục những bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, trong đó có những bất cập như UBND tỉnh Bạc Liêu đã phản ánh.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp cần tổ chức tập huấn về nghiệp vụ xây dựng, thẩm định quy ước, vì thời gian qua các ngành, các cấp tự xây dựng theo cách hiểu của từng nơi, nên chưa tạo sự thống nhất chung và công chức Phòng Tư pháp chưa có nghiệp vụ thẩm định trong lĩnh vực này (UBND tỉnh Bạc Liêu).

Trả lời:

 Như trên đã nêu, thời gian tới, một trong những giải pháp được Bộ Tư pháp kiến nghị là ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan liên quan sẽ ban hành văn bản hướng dẫn theo thẩm quyền và tổ chức các đợt tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước. Trong khi chờ xây dựng, ban hành các văn bản mới về lĩnh vực này, Bộ Tư pháp trân trọng đề nghị UBND tỉnh Bạc Liêu tiếp tục chỉ đạo Sở Tư pháp, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan liên quan, căn cứ vào Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTTMTTQVN, tập huấn, hướng dẫn cho các đối tượng có liên quan về nghiệp vụ xây dựng, thẩm định hương ước, quy ước (công chức Tư pháp – Hộ tịch, công chức Phòng Tư pháp, Trưởng thôn, Trưởng Ban công tác Mặt trận…).

  1. LĨNH VỰC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
  2. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu để bổ sung chế độ, chính sách phụ cấp đối với Trợ giúp viên pháp lý (chế độ phụ cấp công vụ, phụ cấp ưu đãi theo ngành, phụ cấp thâm niên); chế độ đối với viên chức là chuyên viên pháp lý của Trung tâm và các Chi nhánh TGPL. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuẩn bị cho việc chuyển đổi chức danh Trợ giúp viên pháp lý thành Luật sư làm việc tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý và các Chi nhánh TGPL (UBND tỉnh Bình Định).

Đề nghị ban hành chế độ đãi ngộ phù hợp đối với công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ trợ giúp pháp lý (UBND tỉnh Cao Bằng).

Trả lời:

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Trong khi chưa ban hành hoặc sửa đổi Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công trong từng lĩnh vực cụ thể, Trung tâm TGPL nhà nước tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, do đó các chế độ đối với đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo chính sách chung. Về vấn đề phụ cấp công vụ cho cán bộ, viên chức, Trợ giúp viên pháp lý trong các đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên như Trung tâm TGPL nhà nước, Bộ Tư pháp tiếp tục nghiên cứu, đề xuất Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ trong quá trình xây dựng Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công trong lĩnh vực tư pháp sau này phù hợp với quy định chung về viên chức nhà nước làm việc ở đơn vị sự nghiệp không có thu.

Ngày 01/6/2015 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 749/QĐ-TTg về Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 – 2025, trong đó đã đưa ra các giải pháp tăng mức bồi dưỡng vụ việc tham gia tố tụng cho Trợ giúp viên pháp lý thực hiện TGPL từ 20% lên 40% mức bồi dưỡng áp dụng đối với cộng tác viên TGPL. Đồng thời, Đề án đã tăng mức bồi dưỡng cho cộng tác viên TGPL theo vụ việc với 01 buổi làm việc tương đương mức trần bồi dưỡng cho báo cáo viên pháp luật là chuyên viên cấp tỉnh trong 01 buổi làm việc hoặc khoán chi theo vụ việc với mức tối thiểu bằng 03 tháng lương cơ sở và mức tối đa là 10 tháng lương cơ sở. Ngày 17/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trợ giúp pháp lý, trong đó đã quy định các mức bồi dưỡng vụ việc như Đề án quy định[6].

Về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng chuẩn bị cho việc chuyển đổi chức danh Trợ giúp viên pháp lý thành luật sư làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý và các Chi nhánh TGPL: Triển khai mục a.1.II của Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 01/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 – 2025, Bộ Tư pháp sẽ xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng với các hình thức phù hợp theo hướng chuyên sâu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng tranh tụng,  nâng cao chất lượng tham gia tố tụng của các Trợ giúp viên pháp lý thông qua việc giao chỉ tiêu tham gia tố tụng hàng năm cho mỗi Trợ giúp viên pháp lý. Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để xây dựng cơ chế chuyển đổi các Trợ giúp viên pháp lý đã tham gia tố tụng đạt chỉ tiêu vụ việc được giao hàng năm và bảo đảm chất lượng thành luật sư (nếu có nguyện vọng) và các luật sư này sẽ được Nhà nước ưu tiên ký hợp đồng để thực hiện TGPL.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu để quy định hình thức thực hiện trợ giúp pháp lý cho tất cả bị can, bị cáo trong vụ án hình sự (trước mắt đối với người đang sinh sống tại các xã đặc biệt khó khăn) nếu không thuê Luật sư (UBND tỉnh Bình Định).

Trả lời:

Về vấn đề này, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu và đề xuất quy định chỉ định người bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp trong Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) (Công văn số 594/BTP-PLHSHC ngày 2/3/2015). Tiếp theo đó, Chính phủ đã có Công văn số 89/CP-PL ngày 13/3/2015 gửi Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị bổ sung nội dung này theo hướng người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người thuộc diện được trợ giúp pháp lý không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu Trung tâm trợ giúp pháp lý cử người bào chữa miễn phí cho họ. Ngày 24/7/2015, Bộ Tư pháp tiếp tục có Công văn số 2664/BTP-TGPL gửi Ủy ban Tư pháp của Quốc hội góp ý đối với dự án Bộ luật tố tụng hình sự về vấn đề này.

Trong các ngày 25 và 27/11/2015, Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự, theo đó, quyền được trợ giúp pháp lý trong tố tụng đã được bảo đảm. Bộ luật tố tụng hình sự cũng chia sẻ trách nhiệm thực hiện bào chữa theo án chỉ định cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Theo đó tại Điều 76 của Bộ luật thì đối với người thuộc diện được trợ giúp pháp lý là: Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người chưa thành niên thì Trung tâm phải cử người bào chữa cho họ theo chỉ định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Bên cạnh đó, Bộ luật tố tụng hình sự quy định trách nhiệm người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý quyền được trợ giúp pháp lý; nếu họ đề nghị được trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Việc thông báo, giải thích phải được ghi vào biên bản (Điều 71 của Bộ luật).

Ngoài ra, trường hợp người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị thay đổi hoặc từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam để xác nhận việc từ chối – nhằm bảo đảm tính minh bạch, khách quan khi người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam thể hiện nguyện vọng đồng ý hoặc từ chối người bào chữa (Điều 77).

Như vậy, đối với các trường hợp chỉ định người bào chữa, nếu thuộc diện được trợ giúp pháp lý, trong đó có người dân tộc thiểu số thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em không nơi nương tựa sinh sống tại các xã đặc biệt khó khăn sẽ được TGPL.

  1. Tham gia tố tụng cho người được TGPL kể cả người chưa thành niên (theo quy định tại Điều 57 Bộ Luật Tố tụng Hình sự), người thuộc diện hộ cận nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn đột xuất không có điều kiện thuê Luật sư (được UBND cấp xã xác nhận), phụ nữ trong thời kỳ ly hôn, …là hình thức truyền thông có hiệu quả cụ thể, thiết thực của hoạt động TGPL, góp phần giúp cho người được TGPL tham gia bình đẳng trong các quan hệ pháp luật. Do đó, đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu hoặc phối hợp với các bộ, ngành liên quan để bổ sung kinh phí tham gia tố tụng cho người được TGPL trong các Chương trình mục tiêu quốc gia (UBND tỉnh Bình Định).

Trả lời:

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban bành Kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020[7] và Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 01/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 – 2025[8]. Bộ Tư pháp (Cục TGPL) đã xây dựng dự thảo Quyết định tích hợp Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 – 2020 và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách TGPL cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 – 2020, trong đó có hoạt động hỗ trợ kinh phí cho các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo thực hiện vụ việc tham gia tố tụng  cho các đối tượng được TGPL theo Luật TGPL và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm thực hiện đúng mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Đề án đổi mới công tác TGPL là tập trung thực hiện vụ việc TGPL trong đó chú trọng vụ việc tham gia tố tụng.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp cấp phôi thẻ Cộng tác viên Trợ giúp pháp lý cho các Trung tâm trợ giúp pháp lý ở địa phương để phục vụ công tác củng cố kiện toàn đội ngũ Cộng tác viên Trợ giúp pháp lý (UBND tỉnh Bạc Liêu).

Trả lời:

Thực hiện Thông tư số 07/2013/TT-BTP ngày 30/07/2012 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về cộng tác viên TGPL nhà nước, Bộ Tư pháp đã tổ chức in ấn và cấp phát phôi thẻ cộng tác viên TGPL trên cơ sở rà soát đội ngũ cộng tác viên của 63 Trung tâm TGPL nhà nước các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương. Đối với những địa phương có đề xuất về việc cấp bổ sung, đổi, cấp lại phôi thẻ cộng tác viên TGPL, Bộ Tư pháp đề nghị địa phương có Công văn đề nghị nêu rõ lý do, đồng thời có danh sách Cộng tác viên gửi kèm theo để đảm bảo việc cấp phát, quản lý, sử dụng phôi thẻ cộng tác viên đúng mục đích, đúng đối tượng theo quy định của pháp luật.

  1. Theo Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20/11/2013, sau khi Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư cộng tác viên nhận được quyết định đình chỉ vụ án thì tiến hành nghiệm thu hồ sơ và thanh toán, đồng thời, hồ sơ đã được lưu trữ theo quy định; sau này, lý do tạm đình chỉ vụ án không còn, cơ quan tiến hành tố tụng quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư cộng tác viên tiếp tục tham gia tố tụng. Đề nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể việc lập hồ sơ và sự cần thiết ban hành Quyết định cử người tham gia tố tụng để căn cứ là hồ sơ thanh toán trong trường hợp như trên (UBND tỉnh Bạc Liêu).

Đề nghị Bộ Tư pháp sớm có hướng dẫn về tính chất, nội dung vụ việc, cách tính buổi, tính thời gian để làm căn cứ khoán chi hoặc chi trả mức bồi dưỡng cho luật sư theo buổi hoặc theo thời gian làm việc được quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định 80/2015/NĐ-CP ngày 17/9/2015 của Chính phủ (UBND tỉnh Bạc Liêu).

Trả lời:

  1. Về vấn đề thủ tục, hồ sơ thanh toán và sự cần thiết ban hành Quyết định cử người tham gia tố tụng để căn cứ làm hồ sơ thanh toán.

– Đối với vấn đề thủ tục, hồ sơ thanh toán: trường hợp tạm đình chỉ vụ án mà sau này cơ quan tiến hành tố tụng quyết định đưa vụ án xét xử và tiến hành triệu tập Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư cộng tác viên tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL mà Giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự tại cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn hiệu lực thì thủ tục thanh toán lần sau sẽ tiếp tục được thực hiện theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 18/2013/TT-BTP, thời gian làm căn cứ thanh toán chế độ bồi dưỡng vụ việc TGPL của Luật sư cộng tác viên, Trợ giúp pháp lý là thời gian thực tế mà Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên đã tham gia TGPL đến khi hoàn thành vụ việc tham gia TGPL. Vì, theo quy định tại khoản 2, Điều 4, Thông tư số 18/2013/TT-BTP: “Trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thì thời gian làm căn cứ thanh toán chế độ bồi dưỡng vụ việc TGPL của luật sư cộng tác viên, Trợ giúp viên pháp lý là thời gian thực tế mà luật sư cộng tác viên, Trợ giúp viên pháp lý đã tham gia TGPL đến thời điểm đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án². Theo đó, khi vụ án tạm đình chỉ thì người thực hiện TGPL đã lập 01 bộ hồ sơ đề nghị thanh toán chi phí thực hiện vụ việc TGPL gửi Trung tâm hoặc Chi nhánh theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 18/2013/TT-BTP căn cứ theo thời gian thực tế mà người thực hiện TGPL đã tham gia TGPL đến thời điểm tạm đình chỉ vụ án. Trong trường hợp vụ án được tiếp tục đưa ra xét xử thì Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư cộng tác viên được triệu tập tham gia tố tụng tiếp tục được thanh toán chế độ bồi dưỡng vụ việc TGPL theo quy định căn cứ thời gian thực tế mà Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư thực hiện TGPL trong giai đoạn tiếp theo của vụ án.

          – Đối với sự cần thiết ban hành Quyết định cử người tham gia tố tụng để căn cứ làm hồ sơ thanh toán vụ việc trợ giúp pháp lý trong trường hợp trên?

Khoản 3 Điều 39 Luật Trợ giúp pháp lý quy định: “Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi hoặc Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư bị thay đổi, không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật“. Do đó, nếu không thuộc trường hợp phải thay đổi Trợ giúp viên pháp lý/Luật sư thì Trung tâm không cần ra Quyết định cử người thực hiện TGPL mới.

  1. Về việc sớm có hướng dẫn về tính chất, nội dung vụ việc, cách tính buổi, tính thời gian để làm căn cứ khoán chi hoặc chi trả mức bồi dưỡng cho luật sư theo buổi hoặc theo thời gian làm việc được quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định 80/2015/NĐ-CP.

Ngày 17/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2015 (viết tắt là Nghị định số 80/2015/NĐ-CP). Để triển khai thực hiện Nghị định số 80/2015/NĐ-CP, hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Bộ Tài chính (Bộ Tài chính chủ trì) xây dựng dự thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 209/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 30/11/2012 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan, tổ chức TGPL nhà nước (Thông tư liên tịch số 209/2012/TTLT-BTC-BTP) và xây dựng dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc TGPL.

  1. Đề nghị sớm xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định thay thế quyết định số 52/2010/QĐ-TTg và Quyết định 59/2012/QĐ-TTg, trong đó cần tiếp tục duy trì việc hỗ trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động đối với các tỉnh miền núi có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn như Cao Bằng, vì thực tế cho thấy phương thức trợ giúp pháp lý lưu động là phương thức trợ giúp pháp lý phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương và đem lại hiệu quả thiết thực (UBND tỉnh Cao Bằng).

Trả lời:

Điểm a khoản 1 mục II Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý quy định cụ thể các hoạt động hỗ trợ cho các tỉnh, thành phố có các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, cụ thể: hỗ trợ đối với các vụ việc TGPL trong lĩnh vực tố tụng, học phí cho viên chức của Trung tâm tham gia khóa đào tạo nghề luật sư theo mức học phí của Học viện Tư pháp và truyền thông trực tiếp về TGPL để cho người dân với các hình thức: (1) Thiết lập đường dây nóng về TGPL, truyền thông về TGPL; (2) Thu và sao băng cát – xét, đĩa CD bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số về TGPL; (3) Đặt Bảng tin, Hộp tin về TGPL… Theo đó, ngân sách Trung ương sẽ không hỗ trợ kinh phí cho hoạt động TGPL lưu động. Do vậy, tại nội dung dự thảo Quyết định thay thế Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg, Bộ Tư pháp không thực hiện hỗ trợ hoạt động này cho các địa phương mà tập trung kinh phí để thực hiện hỗ trợ cho các vụ việc tố tụng theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới công tác TGPL. Đối với hoạt động khác như TGPL lưu động, nếu thực sự cần thiết, khi người dân có nhu cầu về vụ việc TGPL thì Trung tâm sử dụng kinh phí địa phương để thực hiện, bảo đảm có hiệu quả, thiết thực (lưu ý: chỉ kết hợp truyền thông về TGPL với thực hiện vụ việc TGPL cho người được TGPL trong các đợt TGPL lưu động).

Hiện nay, Bộ Tư pháp đã lấy ý kiến tư vấn thẩm định đối với dự thảo Quyết định này và hoàn thiện các thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành theo quy định.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp quan tâm, chú trọng đến công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ để nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ trợ giúp viên, cộng tác viên, chuyên viên (UBND thành phố Đà Nẵng).

Trả lời:

Công tác tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực, bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực thực hiện TGPL trong thời gian qua luôn được Bộ Tư pháp và các địa phương quan tâm, không chỉ tập trung bồi dưỡng nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý mà còn bồi dưỡng các kỹ năng thực hiện nghiệp vụ. Hàng năm, Bộ Tư pháp tổ chức 02 lớp bồi dưỡng nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý và 04 – 05 lớp tập huấn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp tiếp tục đổi mới phương pháp tập huấn theo hướng kết hợp những tình huống thực tiễn với lý thuyết; sử dụng phương pháp cùng tham gia để chất lượng công tác bồi dưỡng đạt hiệu quả cao hơn.

Tại địa phương, hàng năm, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cần có kế hoạch tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ người thực hiện TGPL phù hợp với yêu cầu của công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn. Theo đó, Trung tâm cần chủ động tổ chức hoặc tham mưu Sở Tư pháp tổ chức tập huấn cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương theo những nội dung về trình độ chuyên môn; kỹ năng nghiệp vụ; về kiến thức quản lý, trình độ chính trị và bồi dưỡng về ngôn ngữ, tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số.

Đồng thời, đối với các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đội ngũ luật sư hành nghề trên địa bàn chưa đáp ứng nhu cầu TGPL, Trung tâm cần chủ động tham mưu cấp có thẩm quyền cử cán bộ tham dự khóa bồi dưỡng nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý để tạo nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý, bổ sung cho đội ngũ người thực hiện TGPL tại địa phương.

 Trong thời gian tới, triển khai các bộ luật: Bộ luật tố tụng hình sự, bộ luật tố tụng dân sự, bộ luật tố tụng hành chính, Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự…, Bộ Tư pháp sẽ có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ để nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ trợ giúp viên, cộng tác viên, chuyên viên.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tổng kết, giới thiệu các mô hình điển hình để các tỉnh trao đổi thông tin tham quan học tập, nhân diện trong phạm vi toàn quốc. Đồng thời tạo điều kiện cho Hà Giang tiếp tục được tiếp cận tham gia các dự án của Bộ về công tác Trợ giúp pháp lý trong điều kiện, tình hình mới (UBND tỉnh Hà Giang).

Trả lời:

– Về việc tổng kết, giới thiệu các mô hình điển hình để các tỉnh trao đổi thông tin, tham quan học tập

Hiện nay các tỉnh đang trong quá trình triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý (ban hành kèm theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 01/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ). Trên cơ sở đánh giá tổng kết tình hình triển khai Đề án Bộ Tư pháp sẽ xác định các tỉnh thực hiện tốt, là mô hình điển hình giới thiệu để các địa phương khác chủ động học tập kinh nghiệm.

– Về việc tiếp cận các dự án về công tác trợ giúp pháp lý

Trong quan hệ với các đối tác quốc tế Bộ Tư pháp luôn nỗ lực để các đối tác có thể hỗ trợ cho ngành Tư pháp nói chung và công tác trợ giúp pháp lý nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam đã là nước có thu nhập trung bình, các đối tác của Việt Nam nói chung và đối tác của Bộ Tư pháp nói riêng chuyển từ hỗ trợ tài chính sang đối tác hợp tác và chủ yếu hỗ trợ kỹ thuật (chia sẻ kinh nghiệm của chuyên gia) trong việc xây dựng thể chế và tăng cường năng lực cho cán bộ. Cơ quan Tư pháp địa phương sẽ được thụ hưởng việc hỗ trợ của đối tác quốc tế thông qua các hoạt động tăng cường năng lực (tập huấn) hoặc sự chia sẻ kinh nghiệm của chuyên gia quốc tế thông qua các hội nghị, hội thảo. Do đó, đề nghị các địa phương tận dụng các cơ hội để có thể học tập nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp tại các lớp tập huấn và hội nghị, hội thảo.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục quan tâm, tăng cường hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị, cơ sở vật chất, nâng cao năng lực cho các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý cho các địa phương chưa tự chủ về ngân sách để triển khai thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo các chính sách trợ giúp pháp lý quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo và Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 (UBND tỉnh Quảng Bình).

Trả lời:

Tại khoản 3 Điều 47 Luật TGPL quy định Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm bảo đảm biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Trung tâm TGPL nhà nước, do vậy, để tránh lãng phí nguồn ngân sách của Nhà nước trong bối cảnh điều kiện kinh tế – xã hội còn hạn hẹp, trong dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thay thế Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg Bộ Tư pháp chỉ đề xuất các hoạt động hỗ trợ có mục tiêu, trong đó có hoạt động tăng cường năng lực cho đội ngũ người thực hiện TGPL đối với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách có các huyện nghèo theo và xã nghèo theo Nghị quyết số 80/NQ-CP để cung cấp dịch vụ TGPL tốt nhất cho các đối tượng thuộc diện chính sách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ khi tham gia vào quan hệ tranh tụng, góp phần giảm nghèo bền vững theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước.

  1. LĨNH VỰC LÝ LỊCH TƯ PHÁP
  2. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu quy định chức danh công chức làm công tác lý lịch tư pháp và chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức làm công tác tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin tại các cơ quan có liên quan (UBND thành phố Đà Nẵng).

1.1. Đối với kiến nghị quy định chức danh công chức làm công tác lý lịch tư pháp

Bộ Tư pháp luôn xác định một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức làm công tác lý lịch tư pháp là phải xây dựng đội ngũ công chức, viên chức làm công tác lý lịch tư pháp chuyên nghiệp theo hướng có chức danh cụ thể. Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn phải được điều chỉnh bởi văn bản luật. Do vậy, Bộ Tư pháp xin tiếp thu kiến nghị của UBND thành phố Đà Nẵng và sẽ nghiên cứu, tổng hợp, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật lý lịch tư pháp (Hiện nay, Bộ Tư pháp đang đề xuất bổ sung dự án Luật lý lịch tư pháp (sửa đổi) vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2016).

1.2. Đối với kiến nghị quy định chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức làm công tác tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin tại các cơ quan có liên quan

Bộ Tư pháp tán thành với kiến nghị của UBND thành phố Đà Nẵng. Đây cũng là một trong những giải pháp cụ thể nhằm thực hiện Chiến lược phát triển lý lịch tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 19/02/2013). Bộ Tư pháp xin tiếp thu và thời gian tới, sẽ phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, đề xuất cơ quan có thẩm quyền quy định về vấn đề này.

  1. Để đảm bảo cho công tác lý lịch tư pháp thực hiện có hiệu quả, đề nghị ban hành văn bản quy định về mức chi hỗ trợ cho việc xây dựng, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp (UBND tỉnh Cao Bằng).

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật thì việc ban hành văn bản quy định về mức chi hỗ trợ cho việc xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ Tài chính. Do vậy, thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, đề nghị Bộ Tài chính xem xét, ban hành văn bản hướng dẫn.

Tuy nhiên, theo quy định của Luật lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, hoạt động xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là hoạt động mang tính chất chuyên môn, nghiệp vụ đặc thù, đòi hỏi phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục nhất định, trong đó có nhiều công đoạn đòi hỏi cán bộ phải tiến hành tạo lập dữ liệu điện tử. Do vậy, trong thời gian chờ Bộ Tài chính ban hành văn bản hướng dẫn kinh phí cho việc thực hiện hoạt động này, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng có thể căn cứ vào quy trình xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (được quy định cụ thể tại Thông tư số 06/2013/TT-BTP ngày 06/02/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp) và quy định tại Thông tư số 194/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn mức chi tạo lập thông tin điện tử nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, chỉ đạo Sở Tư pháp, phối hợp với Sở Tài chính của tỉnh nghiên cứu, đề xuất mức hỗ trợ kinh phí nhằm bảo đảm cho Cơ sở dữ liệu được xây dựng kịp thời, đúng pháp luật.

XII. LĨNH VỰC GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục tăng cường công tác tập huấn chuyên sâu về kỹ năng, nghiệp vụ đăng ký giao dịch bảo đảm (UBND tỉnh Quảng Trị).

Trả lời:

Trong thời gian vừa qua, Bộ Tư pháp đã tổ chức một số Lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm cho các đối tượng là công chức phụ trách công tác đăng ký giao dịch bảo đảm của Sở Tư pháp, cán bộ làm công tác đăng ký của các Văn phòng Đăng ký đất đai, các tổ chức tín dụng, tổ chức hành nghề công chứng, luật sư… Riêng năm 2015, Bộ đã phối hợp với dự án JICA tổ chức 01 lớp tập huấn về pháp luật đăng ký giao dịch bảo đảm tại Phú Thọ vào tháng 03/2015. Trên cơ sở nhu cầu tập huấn của địa phương, Bộ cũng đã cử báo cáo viên pháp luật trình bày về những văn bản mới được ban hành cho các lớp tập huấn pháp luật về giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm do địa phương tổ chức tại tỉnh Nghệ An vào tháng 4/2015, Quảng Bình vào tháng 6/2015.

Trong năm 2016, cùng với các quy định mới về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua vào ngày 24/11/2015 và Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18/11/2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được ban hành, Bộ Tư pháp dự kiến tổ chức 03 lớp tập huấn tại 03 Miền (Bắc, Trung, Nam) cho công chức các cơ quan quản lý, cán bộ thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm của các Văn phòng Đăng ký đất đai, các công chứng viên,  luật sư, các cán bộ của các tổ chức tín dụng và tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu. Ngoài ra, Bộ cũng sẽ thường xuyên phối hợp với các địa phương, các tổ chức tín dụng, tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như JICA, IFC, IRZ… tổ chức tập huấn chuyên sâu về pháp luật giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm tại các địa phương cho các đối tượng có liên quan

XIII. LĨNH VỰC THANH TRA

Đề nghị Bộ Tư pháp tiếp tục tăng cường công tác tập huấn chuyên sâu về kỹ năng, nghiệp vụ thanh tra và thanh tra chuyên ngành (UBND tỉnh Khánh Hòa, Quảng Trị).

Trả lời:

Tại Quyết định số 1846/QĐ-BTP ngày 08/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 54/2014/NĐ-CP ngày 29/5/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp đã chỉ rõ, việc tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành và xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực do Bộ Tư pháp quản lý là nhiệm vụ phải thực hiện hàng năm.

Thực hiện Kế hoạch nói trên, theo dự kiến Kế hoạch thanh tra năm 2016, Bộ Tư pháp sẽ tổ chức bồi dưỡng tập huấn chuyên sâu về thanh tra chuyên ngành cho đối tượng là Thanh tra các Sở Tư pháp vào quý III, quý IV năm 2016.

XIV. LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Đề nghị Bộ Tư pháp sớm đưa phần mềm cơ sở dữ liệu về các lĩnh vực như thi đua khen thưởng, xử lý vi phạm hành chính, đăng ký giao dịch bảo đảm, lý lịch tư pháp… vào hoạt động. Tích cực hỗ trợ các địa phương trong triển khai ứng dụng các phần mềm quản lý nghiệp vụ (UBND tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị).

Trả lời:

1. Về lĩnh vực Lý lịch tư pháp:

Từ năm 2012, Bộ Tư pháp đã triển khai Phần mềm Quản lý lý lịch tư pháp dùng chung và Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trên toàn quốc, trong đó có Sở Tư pháp các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị. Qua theo dõi, Sở Tư pháp của hai địa phương đã và đang khai thác, sử dụng rất tích cực, phục vụ có hiệu quả cho công tác lý lịch tư pháp trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, nhằm phục vụ một cách tiện lợi nhất cho người dân trong việc xin cấp phiếu lý lịch tư pháp, mới đây Bộ Tư pháp đã triển khai bổ sung Phân hệ cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến (cung cấp dịch vụ công mức độ 3 trong lĩnh vực lý lịch tư pháp), đồng thời, vẫn đang sẵn sàng hỗ trợ một cách kịp thời các vướng mắc của các Sở Tư pháp trong quá trình vận hành, khai thác và sử dụng phần mềm.

Vì vậy, đề nghị UBND các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị tiếp tục chỉ đạo và tạo điều kiện hơn nữa cho Sở Tư pháp trong việc khai thác, sử dụng Phần mềm và đưa vào sử dụng Phân hệ cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến phục vụ một cách hiệu quả cho người dân cũng như kịp thời thông báo về Bộ Tư pháp những vướng mắc trong quá trình sử dụng để sớm được hỗ trợ một cách tốt nhất.

2. Về lĩnh vực Đăng ký giao dịch bảo đảm, Thi đua – Khen thưởng:

– Đối với lĩnh vực Đăng ký giao dịch bảo đảm: Đây là lĩnh vực do Bộ Tư pháp trực tiếp thực hiện và từ năm 2007 Bộ Tư pháp đã triển khai Hệ thống Đăng ký giao dịch bảo đảm trực tuyến, cung cấp dịch vụ công mức độ 3, phục vụ một cách hiệu quả cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm. Dự kiến trong năm 2016, Bộ Tư pháp sẽ thực hiện nâng cấp hệ thống này nhằm cung cấp dịch vụ công đạt mức độ 4, tạo tiện lợi một cách tốt nhất cho người dân và các tổ chức.

– Đối với lĩnh vực Thi đua khen thưởng: Từ năm 2013 Bộ Tư pháp cũng đã triển khai và đưa vào sử dụng một cách hiệu quả Phần mềm Quản lý hồ sơ thi đua khen thưởng tại Vụ Thi đua – Khen thưởng thuộc Bộ.

3. Về lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính:

          Hiện nay, Bộ Tư pháp đang xây dựng Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính theo yêu cầu của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013. Việc triển khai phần mềm hỗ trợ cập nhật, quản lý thông tin xử lý vi phạm hành chính cho các cơ quan tham gia công tác xử lý vi phạm hành chính sẽ được triển khai theo tiến độ được đề ra trong Đề án sau khi Đề án được phê duyệt.

  1. LĨNH VỰC BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC
  2. Trên cơ sở kết quả tổng kết 5 năm thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, sớm tham mưu, trình Chính phủ phương án hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước theo hướng tăng cường và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, của cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ của mình; xác định và quy định rõ thẩm quyền, thủ tục thụ lý các vụ kiện yêu cầu bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (UBND thành phố Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Hiện nay, dự án Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) đã được Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2016 và Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng dự án Luật này. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng đang chuẩn bị tổ chức Hội nghị Tổng kết 5 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp kiến nghị nêu trên của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh vào dự thảo Báo cáo Tổng kết 5 năm thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và sẽ nghiên cứu kỹ trong quá trình xây dựng dự án Luật sửa đổi.

  1. Đề nghị Bộ Tư pháp tăng cường công tác tập huấn chuyên sâu về kỹ năng, nghiệp vụ bồi thường nhà nước (UBND tỉnh Quảng Trị).

Trả lời:

Kể từ khi Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực đến nay, hàng năm, Bộ Tư pháp luôn chú trọng và tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước trên phạm vi cả nước, đồng thời, chỉ đạo Cục Bồi thường nhà nước phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong việc cử báo cáo viên pháp luật khi địa phương có yêu cầu hỗ trợ về báo cáo viên để chủ động tổ chức lớp tập huấn tại địa phương.

Do vậy, để tiếp tục nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước cho đội ngũ công chức làm công tác bồi thường, Bộ Tư pháp đề nghị các địa phương cần chủ động hơn trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ này.

Về phía Bộ Tư pháp, trong năm 2015, Bộ Tư pháp đã ban hành và phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan ban hành 04 Thông tư và Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án dân sự. Do đó, để bảo đảm đội ngũ công chức được giao thực hiện công tác bồi thường nhà nước kịp thời nắm bắt những quy định mới ban hành cũng như tiếp tục trau dồi kỹ năng, nghiệp vụ bồi thường nhà nước, dự kiến trong năm 2016, Bộ Tư pháp sẽ tổ chức tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước và triển khai các văn bản mới ban hành nêu trên cho các địa phương trên phạm vi cả nước.

XVI. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

  1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiên cứu, chỉ đạo các tổ chức pháp chế, Sở Tư pháp và các cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương có các giải pháp tháo gỡ.
  2. Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ quan tâm phối hợp Bộ Tư pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến công tác tổ chức bộ máy, cán bộ và vấn đề ngân sách của ngành Tư pháp.
  3. Các tổ chức pháp chế, Sở Tư pháp nghiên cứu kỹ các nội dung kiến nghị và trả lời kiến nghị nêu trên, báo cáo đề xuất các giải pháp tháo gỡ, trình Lãnh đạo Bộ, ngành, địa phương chỉ đạo thực hiện./.

                                                                             BỘ TƯ PHÁP

[1] Gồm: dịch văn bản quy phạm pháp luật; thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản; đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đăng công báo, niêm yết văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật; rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật).

[2] Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Điện Biên, Sơn La, thành phố Hồ Chí Minh, Long An

[3] Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ngãi, Bạc Liêu, Kiên Giang, Tây Ninh, Bình Dương

[4] Tài liệu tuyên truyền Hiến pháp dành cho cán bộ, đảng viên; Tài liệu hỏi – đáp về Hiến pháp dùng để tuyên truyền trong nhân dân; các tài liệu hỏi – đáp pháp luật…..

[5] Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước năm 2015 (ban hành kèm theo Quyết định số 4080/QĐ-BTP ngày 31/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp)

[6] Khoản 9 Điều 1 được sửa đổi như sau: Trợ giúp viên pháp lý được hưởng phụ cấp trách nhiệm theo nghề bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp vượt khung (nếu có). Khi tham gia tố tụng Trợ giúp viên pháp lý được hưởng chế độ bồi dưỡng vụ việc bằng 40% mức bồi dưỡng áp dụng đối với luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước quy định tại Khoản 4 Điều này. Khi thực hiện đại diện ngoài tố tụng, hòa giải, Trợ giúp viên pháp lý được hưởng chế độ bồi dưỡng vụ việc bằng 20% mức bồi dưỡng áp dụng đối với luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước. Khoản 12 Điều 1 được sửa đổi, bổ sung như sau: Trong trường hợp thực hiện trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng thì mức bồi dưỡng được trả cho luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước là 500.000 đồng/01 buổi làm việc hoặc khoán chi theo vụ việc với mức tối thiểu bằng 03 tháng lương cơ sở và mức tối đa là 10 tháng lương cơ sở (tùy tính chất, nội dung vụ việc). Bộ Tư pháp quy định cụ thể về tính chất, nội dung vụ việc, cách tính buổi, tính thời gian để làm căn cứ khoán chi hoặc chi trả mức bồi dưỡng cho luật sư theo buổi hoặc theo thời gian làm việc.

[7] Bộ Tư pháp có nhiệm vụ: “Tích hợp 02 Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 – 2020 và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách TGPL cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 – 2020”.

[8] Điểm a khoản 2 phần II Đề án: “Ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thay thế Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg, Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg với nội dung tích hợp nguồn kinh phí này để Bộ Tư pháp điều phối vụ việc và hỗ trợ cho các hoạt động TGPL được quy định trong Quyết định phê duyệt Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 – 2025”

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Chuyên Tư vấn về xử lý vi phạm hành chính.- Quảng cáo trực tuyến: Textlink, bài viết quảng cáo...Nhận làm bài giảng powerpoint tuyên truyền Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *