Trang chủ / TỔNG HỢP VĂN BẢN LUẬT / VĂN BẢN CHỨNG THỰC / Những vướng mắc về công tác chứng thực

Những vướng mắc về công tác chứng thực

  1. giadinhXác nhận Sơ yếu lý lịch như thế nào?

Hiện nay, yêu cầu xác nhận yếu lý lịch của người dân là rất lớn. Tuy nhiên, do chưa có văn bản hướng dẫn về việc xác nhận, nên Ủy ban nhân cấp xã có thể xác nhận hộ khẩu thường trú của người yêu cầu và kèm theo nội dung xác nhận về thái độ chấp hành pháp luật của người yêu cầu hay không?

Do hiện nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn về việc xác nhận của Ủy ban nhân cấp xã đối với Sơ yếu lý lịch, nên ở các địa phương thực hiện không thống nhất, có nơi xác nhận đăng ký thường trú, có nơi xác nhận chữ ký của người khai lý lịch, cũng có nơi chỉ đóng dấu của Ủy ban nhân dân mà không có nội dung xác nhận… Đặc biệt, trong thời gian qua, theo phản ánh của báo chí và một số địa phương thì đã có một số Uỷ ban nhân dân cấp xã đã xác nhận vào Sơ yếu lý lịch của công dân với nội dung “không chấp hành pháp luật, chủ trương của Nhà nước” do những hộ gia đình này không nộp đầy đủ các khoản thu của địa phương. Nội dung xác nhận này đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, gây bất lợi cho công dân khi sử dụng yếu lý lịch.

loading...

Vì vậy, để tháo gỡ vướng mắc nêu trên, nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân, trong thời gian chờ văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, thì Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ thực hiện chứng thực chữ ký của người khai Sơ yếu lý lịch; người khai phải tự chịu trách nhiệm về nội dung đã khai trong lý lịch. Trong trường hợp người thực hiện chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã biết rõ về nhân thân của người khai sơ yếu lý lịch và yên tâm, tin tưởng vào nội dung đã khai trong Sơ yếu lý lịch của người đó, thì xác nhận nội dung Sơ yếu lý lịch là đúng. Ủy ban nhân dân cấp xã không ghi nội dung về việc chấp hành pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước, địa phương vào yếu lý lịch của công dân.

  1. Chứng thực văn bản song ngữ

Theo quy định tại Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/01/2012 về sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, thì việc chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và giấy tờ, văn bản song ngữ thuộc thẩm quyền của Phòng Tư pháp. Tuy nhiên, tại Văn bản hợp nhất của Bộ Tư pháp số 8023/VBHN-BTP ngày 10/12/2013, hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP (hợp nhất thông tư số 03/2008/TT-BTP và Thông tư số 19/2011/TT-BTP) thì tại điểm c khoản 1 có quy định “Đối với các giấy tờ, văn bản có tính chất song ngữ… thì người yêu cầu chứng thực được lựa chọn chứng thực tại Phòng Tư pháp cấp huyện hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã”. Vậy, Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản song ngữ theo quy định này hay không?

Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là Pháp lệnh hợp nhất) năm 2012 thì: “Hợp nhất văn bản là việc đưa nội dung sửa đổi, bổ sung trong văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản đã được ban hành trước đó vào văn bản được sửa đổi, bổ sung theo quy trình, kỹ thuật quy định tại Pháp lệnh này”, “Văn bản hợp nhất là văn bản được hình thành sau khi hợp nhất văn bản sửa đổi, bổ sung với văn bản được sửa đổi, bổ sung”. Về nguyên tắc, khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh hợp nhất quy định: “Việc hợp nhất văn bản không được làm thay đổi nội dung và hiệu lực của văn bản được hợp nhất”. Như vậy, việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật chỉ thuần túy là hoạt động kỹ thuật, văn bản hợp nhất số 8023/VBHN-BTP không tạo ra các quy phạm pháp luật mới cũng như văn bản quy phạm pháp luật mới.

Do đó, mặc dù tại điểm c khoản 1 Thông tư số 03/2008/TT-BTP có hướng dẫn: “Đối với các giấy tờ, văn bản có tính chất song ngữ… thì người yêu cầu chứng thực được lựa chọn chứng thực tại Phòng Tư pháp cấp huyện hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã”, nhưng Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/01/2012 sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/05/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký quy định việc chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản song ngữ thuộc thẩm quyền của Phòng Tư pháp cấp huyện. Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (khoản 2 Điều 83 về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật) thì phải áp dụng quy định tại Nghị định số 04/2012/NĐ-CP.

Như vậy, thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản song ngữ phải được xác định và thực hiện theo quy định tại Nghị định số 04/2012/NĐ-CP (thuộc Phòng Tư pháp cấp huyện). Theo đó, Uỷ ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản song ngữ.

  1. Việc rút lại lời chứng

Người yêu cầu chứng thực hoặc người thực hiện chứng thực có được đề nghị rút lại lời chứng trong các hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực tại Uỷ ban nhân dân hay không?

Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực quy định: “Hợp đồng đã được công chứng, chứng thực có giá trị thi hành đối với các bên giao kết; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình, thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật”. Điểm 1 Mục II Thông tư số 03/2001/TP-CC của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 quy định: “Lời chứng là bộ phận cấu thành của văn bản chứng thực”. Do đó, hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực thì không được rút lại lời chứng mà chỉ có thể thay đổi nội dung hợp đồng, giao dịch theo thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch hoặc hủy bỏ hợp đồng, giao dịch nếu người thực hiện chứng thực thấy có căn cứ cho rằng hợp đồng, giao dịch đã chứng thực có nội dung trái pháp luật. Cụ thể, từng trường hợp có thể giải quyết theo các phương án sau:

Một là: Trường hợp người yêu cầu chứng thực muốn thay đổi nội dung hợp đồng, giao dịch mà có sự đồng ý của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch và không làm ảnh hưởng đến lợi ích chung thì phải làm thủ tục hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đồng thời lập hợp đồng, giao dịch mới.

Hai là: Trường hợp người thực hiện chứng thực có căn cứ cho rằng hợp đồng, giao dịch đã chứng thực có nội dung trái pháp luật, nhưng các bên tham gia giao kết hợp đồng không muốn hủy bỏ hợp đồng cũ, thì có thể áp dụng tương tự quy định của Điều 45 Luật Công chứng để giải quyết. Theo đó, người thực hiện chứng thực, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản chứng thực vô hiệu.

Nguồn:Tạp chí dân chủ pháp luật

http://www.moj.gov.vn/tcdcpl/tintuc/Lists/TuPhapDiaPhuong/View_Detail.aspx?ItemID=387

loading...
Quảng cáo:

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Blog chia sẻ thông tin pháp luật - Tư vấn pháp luật - Quảng cáo trực tuyến. Liên hệ: kesitinh355@gmail.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *