Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc các tình huống tìm hiểu quy định pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Tình huống 1: Ông Y có hộ khẩu thường trú tại xã A, tỉnh G. Khi địa phương lập và niêm yết danh sách cử tri, ông Y đã được ghi tên vào danh sách cử tri tại xã A. Do dự kiến đi công tác tại tỉnh K vào đúng ngày bầu cử nên ông Y đã đến Ủy ban nhân dân xã A xin cấp Giấy chứng nhận để bỏ phiếu ở tỉnh K. Tuy nhiên vì lý do khách quan, chuyến công tác bị huỷ nên ông Y lại có nguyện vọng được tham gia bầu cử tại nơi thường trú (xã A). Trong trường hợp này, việc lập, điều chỉnh, bổ sung danh sách cử tri được thực hiện như thế nào?
Trả lời
Trường hợp của ông Y sẽ áp dụng khoản 3 Điều 12 Thông tư số 21/2025/TT-BNV quy định đối với trường hợp cử tri đã được lập danh sách cử tri tại nơi thường trú (hoặc nơi tạm trú), nhưng đã được cấp Giấy chứng nhận để tham gia bỏ phiếu ở nơi khác, sau đó cử tri lại có nguyện vọng được tham gia bỏ phiếu tại nơi thường trú (hoặc nơi tạm trú) thì việc lập, điều chỉnh, bổ sung danh sách cử tri được thực hiện như sau:
– Trường hợp cử tri đã xuất trình Giấy chứng nhận đi bỏ phiếu ở nơi khác và đã được bổ sung tên vào danh sách cử tri ở nơi khác, nhưng sau đó lại trở về địa phương nơi thường trú (hoặc nơi tạm trú) và có nguyện vọng thực hiện quyền bầu cử tại nơi thường trú (hoặc nơi tạm trú) thì cử tri phải thông báo và xin Giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mình đã được ghi tên vào danh sách cử tri mới để đề nghị được cấp Giấy chứng nhận đi bỏ phiếu ở nơi khác. Đồng thời, cử tri cần đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mình thường trú (hoặc nơi tạm trú) để đề nghị được bổ sung vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để thực hiện quyền bầu cử theo quy định ở khu vực bỏ phiếu nơi thường trú (hoặc nơi tạm trú);
– Trường hợp cử tri chưa xuất trình Giấy chứng nhận đi bỏ phiếu ở nơi khác và chưa được bổ sung tên vào danh sách cử tri ở nơi khác, nếu sau đó cử tri này trở về địa phương nơi thường trú (hoặc nơi tạm trú) và có nguyện vọng thực hiện quyền bầu cử tại đây thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mình thường trú (hoặc nơi tạm trú) gửi lại Giấy chứng nhận đã được cấp và đề nghị được bổ sung vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để thực hiện quyền bầu cử theo quy định ở khu vực bỏ phiếu nơi thường trú (hoặc nơi tạm trú).
Như vậy, ông Y cần căn cứ quy định nêu trên để bảo đảm thực hiện quyền bầu cử theo nguyện vọng của mình.
Tình huống 2: Tại tỉnh X, trong thời gian chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, do trong xã có nhiều cử tri đi làm ăn xa, việc tập trung đông người gặp khó khăn. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh X phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri theo hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến. Xin hỏi việc tiếp xúc cử tri bằng hình thức trực tuyến của tỉnh X có đúng quy định không?
Trả lời
Theo quy định tại khoản 1 Điều 66 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về hội nghị tiếp xúc cử tri thì việc tỉnh X tổ chức tiếp xúc cử tri bằng hình thức trực tuyến là hoàn toàn đúng quy định về bầu cử. Cụ thể khoản 1 Điều 66 quy định như sau:
Hội nghị tiếp xúc cử tri được tổ chức theo hình thức trực tiếp hoặc căn cứ điều kiện thực tế có thể tổ chức theo hình thức trực tuyến, trực tiếp kết hợp với trực tuyến. Việc tiếp xúc cử tri trực tuyến hoặc trực tiếp kết hợp với trực tuyến chỉ được thực hiện khi bảo đảm các điều kiện kỹ thuật, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng.

Ủy ban nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về hình thức, nội dung, thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị, điểm truy cập trực tuyến để cử tri tham dự đông đủ.
Như vậy, việc tiếp xúc cử tri bằng hình thức trực tuyến của tỉnh X là đúng quy định pháp luật nếu tỉnh X đáp ứng được các điều kiện kỹ thuật, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng.
Tình huống 3: Bà B là người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã Y. Báo tỉnh và Đài phát thanh – truyền hình tỉnh tổ chức chuyên mục “Ứng cử viên với cử tri” và mời bà B tham gia. Khi trả lời phỏng vấn, bà B trình bày chương trình hành động của mình tập trung vào các vấn đề phát triển kinh tế địa phương, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế cơ sở nếu được bầu làm đại biểu HĐND. Nội dung phỏng vấn được đăng tải trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Ủy ban bầu cử xã, tỉnh. Hoạt động này của bà B có phải là vận động bầu cử không?
Trả lời
Hoạt động này của bà B là hoạt động vận động bầu cử, phù hợp với khoản 2 Điều 67 nhằm bảo đảm quyền vận động bầu cử của người ứng cử. Cụ thể, Điều 67 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về việc vận động bầu cử thông qua phương tiện thông tin đại chúng như sau:
– Người ứng cử đại biểu Quốc hội trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội khi trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương nơi mình ứng cử và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng Bầu cử quốc gia.
– Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân khi trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Ủy ban bầu cử (nếu có).
– Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử.
– Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc đăng tải chương trình hành động của người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương.
Tình huống 4: Bà Y là Phó Chủ tịch UBND xã, là người ứng cử đại biểu HĐND. Trong thời gian vận động bầu cử, bà Y chỉ đạo cán bộ xã sử dụng loa truyền thanh xã để phát nội dung giới thiệu về quá trình công tác, thành tích của cá nhân bà Y vào giờ cao điểm. Đề nghị cho biết, việc này của bà Y có đúng quy định pháp luật không?
Trả lời
Theo quy định tại Điều 68 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử, bao gồm các hành vi:
– Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.
– Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.
– Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.

– Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.
Căn cứ quy định trên thì bà Y đã có hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn và phương tiện thông tin đại chúng để phục vụ vận động bầu cử cá nhân, là hành vi bị cấm trọng vận động bầu cử, vi phạm khoản 2 Điều 68 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử.
Tình huống 5: Cụ C tuổi cao, mắt kém, không thể tự viết phiếu bầu cử. Cụ đề nghị cháu ruột viết hộ phiếu bầu theo đúng ý kiến của mình và dặn không nói cho ai biết. Sau đó, cụ C tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu. Hỏi, việc cụ C nhờ cháu viết hộ phiếu bầu có đúng quy định không? Những nguyên tắc nào cần lưu ý khi bỏ phiếu bầu cử?
Trả lời
Theo quy định tại khoản 3 Điều 69 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về nguyên tắc bỏ phiếu thì trường hợp cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Căn cứ quy định nêu trên thì việc cụ C nhờ cháu viết hộ là đúng quy định của pháp luật.
Ngoài nguyên tắc nêu trên, những nguyên tắc khác cần lưu ý khi bầu cử gồm:
– Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân.
– Cử tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp thuộc đối tượng được Tổ bầu cử mang họp phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị để thực hiện việc bầu cử; khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri.

– Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
– Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.
– Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.
– Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào Thẻ cử tri.
– Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu.
Tình huống 6: Khu vực bỏ phiếu số 02 thuộc xã P là địa bàn ven biển, nhiều cử tri làm nghề đánh bắt thủy sản thường ra khơi từ rất sớm và trở về muộn. Nếu tổ chức bỏ phiếu theo khung giờ thông thường từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối, nhiều cử tri khó có điều kiện tham gia bầu cử đầy đủ. Vì vậy, Tổ bầu cử xã P đã họp và thống nhất quyết định thời gian bỏ phiếu từ 5 giờ 30 phút sáng và kết thúc việc bỏ phiếu lúc 8 giờ 30 phút tối. Quyết định này được thông báo công khai trước ngày bầu cử để cử tri biết và chủ động sắp xếp thời gian đi bầu. Việc làm này của Tổ bầu cử xã P có đúng quy định không?
Trả lời
Theo quy định tại Điều 70, 71 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì tổ bầu cử có trách nhiệm thông báo về thời gian bầu cử, nơi bỏ phiếu và thời gian bỏ phiếu cụ thể như sau:
– Thông báo về thời gian bầu cử, nơi bỏ phiếu: Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu bằng hình thức niêm yết, phát thanh và các phương tiện thông tin đại chúng khác của địa phương.
– Thời gian bỏ phiếu
+ Việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá chín giờ tối cùng ngày.
+ Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri.
+ Việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.
Trường hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định thì Ủy ban bầu cử trình Hội đồng Bầu cử quốc gia xem xét, quyết định.
Căn cứ quy định nêu trên việc Tổ bầu cử xã P thông báo thời gian bỏ phiếu sớm từ 5h30 và kết thúc lúc 8h30 tối là đúng quy định của pháp luật.
Tình huống 7: Trong quá trình kiểm phiếu, Tổ bầu cử khu vực số 09 chỉ có các thành viên Tổ bầu cử tham gia, không mời 02 cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu vì lúc đó đã muộn, người dân ở xa nên đã về hết. Lý do này có chính đáng không?
Trả lời
Điều 73 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về việc kiểm phiếu như sau:
Việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc.
Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu bầu không sử dụng đến và phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu.
Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử hoặc người được ủy nhiệm có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
Như vậy, lý do tổ bầu cử khu vực số 09 không mời 02 cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu vì lúc đó đã muộn, người dân ở xa nên đã về hết là không chính đáng và không đúng quy định pháp luật.
Tình huống 8: Khi tiến hành kiểm phiếu, Tổ bầu cử phát hiện một phiếu bầu đúng mẫu, nội dung hợp lệ nhưng không có dấu của Tổ bầu cử. Đề nghị cho biết, phiếu bầu đó có hợp lệ không?
Trả lời
Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 74 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì phiếu bầu không có dấu của Tổ bầu cử là phiếu bầu không hợp lệ.
Cụ thể, Điều 74 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định các trường hợp phiếu bầu không hợp lệ như sau:
– Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát ra;
– Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;
– Phiếu để số người được bầu nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử;
– Phiếu gạch xóa hết tên những người ứng cử;
– Phiếu ghi thêm tên người ngoài danh sách những người ứng cử hoặc phiếu có ghi thêm nội dung khác.
Trường hợp có phiếu bầu được cho là không hợp lệ thì Tổ trưởng Tổ bầu cử đưa ra để toàn Tổ xem xét, quyết định. Tổ bầu cử không được gạch xóa hoặc sửa các tên ghi trên phiếu bầu.
Tình huống 9: Trong quá trình kiểm phiếu, cử tri H được mời chứng kiến đã phát hiện một thành viên Tổ bầu cử cho rằng các phiếu bầu gạch tên nhiều ứng cử viên, chỉ để lại tên một người thì thuộc “phiếu bầu không hợp lệ”. Cho rằng việc này có dấu hiệu xác định sai tính hợp lệ của phiếu bầu, anh H đã khiếu nại trực tiếp tại chỗ và yêu cầu Tổ bầu cử xem xét lại. Tổ bầu cử tiến hành trao đổi, đối chiếu quy định pháp luật nhưng giữa các thành viên Tổ bầu cử có ý kiến khác nhau. Vì vậy, Tổ bầu cử đã lập biên bản khiếu nại, ghi rõ nội dung khiếu nại của cử tri, ghi đầy đủ ý kiến và quan điểm của từng thành viên Tổ bầu cử và chuyển toàn bộ hồ sơ lên Ban bầu cử để xem xét, giải quyết. Việc kiểm phiếu tiếp tục được tiến hành nhưng kết quả đối với các phiếu đang có khiếu nại được tạm ghi chú chờ quyết định của Ban bầu cử. Anh H hỏi Tổ bầu cử làm vậy có đúng không?
Trả lời
Căn cứ quy định tại Điều 75 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về khiếu nại, tố cáo về kiểm phiếu thì các bước xử lý khiếu nại của tổ bầu cử nơi anh H là cử tri chứng kiến là đúng quy định của pháp luật. Cụ thể, Điều 75 quy định: Những khiếu nại, tố cáo tại chỗ về những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử nhận, giải quyết và ghi nội dung giải quyết vào biên bản. Trong trường hợp Tổ bầu cử không giải quyết được thì phải ghi rõ ý kiến của Tổ bầu cử vào biên bản giải quyết khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Ban bầu cử.
Tình huống 10. Tại đơn vị bầu cử số 7, tổng số cử tri trong danh sách là 6.000 người. Kết thúc ngày bầu cử, Tổ bầu cử thống kê chỉ có 2.700 cử tri đi bỏ phiếu, chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri theo quy định của pháp luật. Tổ bầu cử đã lập biên bản ghi rõ số cử tri tham gia bỏ phiếu không đạt quá một nửa và báo cáo cho Ban bầu cử. Sau khi xem xét báo cáo, Ban bầu cử tiếp tục lập biên bản và báo cáo Ủy ban bầu cử cấp xã. Ủy ban bầu cử cấp xã đã báo cáo và được Hội đồng Bầu cử cấp tỉnh đồng ý, từ đó quyết định tổ chức bầu cử lại tại đơn vị bầu cử số 7. Ủy ban bầu cử quyết định, ngày bầu cử lại được tổ chức sau 05 ngày kể từ ngày bầu cử đầu tiên. Danh sách người ứng cử giữ nguyên. Giả sử trong cuộc bầu cử lại, có 2.900 cử tri đi bỏ phiếu, vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách. Đề nghị cho biết, trường hợp này có phải bầu lại một lần nữa không?
Trả lời
Điều 80 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về các trường hợp bầu cử lại, theo đó:
– Trường hợp đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu ở cấp đó.
– Đối với bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh đề nghị Hội đồng Bầu cử quốc gia xem xét, quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri.
– Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quyết định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri sau khi đã báo cáo và được sự đồng ý của Hội đồng Bầu cử quốc gia.
– Trong trường hợp bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 07 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.
Căn cứ quy định nêu trên, việc tiến hành tổ chức bầu cử lại khi số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri là đúng quy định pháp luật, khi tổ chức bầu lại mà số cử tri đi bỏ phiếu vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách thì kết quả bầu cử vẫn được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.
Tình huống 11: Ủy ban bầu cử xã Y công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân vào ngày 25/3. Đến ngày 30/3, ông P cho rằng kết quả bầu cử không phản ánh đúng ý chí của cử tri nên gửi đơn khiếu nại về kết quả bầu cử. Do đơn khiếu nại được nộp sau thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố kết quả, Ủy ban bầu cử xã Y không thụ lý giải quyết và có văn bản trả lời ông P theo quy định. Ông P hỏi việc làm của Ủy ban bầu cử xã Y có đúng pháp luật không?
Trả lời
Điều 87 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử như sau:
– Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội phải được gửi đến Hội đồng Bầu cử quốc gia chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội.
Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải được gửi đến Ủy ban bầu cử chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
– Hội đồng Bầu cử quốc gia có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Ủy ban bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
– Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng.
Căn cứ quy định nêu trên, việc Ủy ban bầu cử xã Y không thụ lý giải quyết đơn khiếu nại của ông P vì nộp đơn khiếu nại quá 03 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và có văn bản trả lời ông P là đúng quy định pháp luật.
Tình huống 12: Tôi là công dân, cử tri thường trú tại tỉnh A, ông Chấn là đại biểu Quốc hội của tỉnh tôi và sinh sống gần nhà tôi. Nay tôi làm đơn tố cáo việc Công ty Z xả thải gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh. Hỏi, tôi có thể gửi đơn tố cáo đến ông Chấn không? Đề nghị cho biết, nếu ông Chấn có thẩm quyền nhận đơn thì việc giải quyết đơn tố cáo được tiến hành như thế nào?
Trả lời
Ông/bà có thể gửi đơn tố cáo đến đại biểu Quốc hội của tỉnh mình để phản ánh những hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trên địa bàn.
Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu Quốc hội về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Trường hợp nếu xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân không đúng pháp luật, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu Quốc hội yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết.
Đối với trường hợp của ông/bà, sau khi nhận được đơn tố cáo, ông Chấn có trách nhiệm chuyển đơn đó đến Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh A để xem xét và đôn đốc giải quyết trong thời hạn luật định, đồng thời thông báo cho ông/bà biết biết.
Tình huống 13: Ông T có hộ khẩu thường trú tại tỉnh H. Ông T hiện đang công tác với vai trò là Giám đốc một doanh nghiệp có trụ sở chính đặt tại thành phố N (lân cận với tỉnh H). Do có nhiều đóng góp cho công tác xã hội tại thành phố N nên ông được Hiệp hội doanh nghiệp của thành phố N giới thiệu ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố N nhiệm kỳ 2026-2031 để đại diện cho khối doanh nghiệp trên địa bàn. Đề nghị cho biết ông T có thể ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố N nhiệm kỳ 2026-2031 không?
Trả lời
Căn cứ điểm đ khoản 3 Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định một trong những tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân đó là: “đ) Cư trú hoặc công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp ở đơn vị hành chính mà mình là đại biểu Hội đồng nhân dân”.
Căn cứ theo quy định trên, đại biểu Hội đồng nhân dân phải cư trú hoặc công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp ở đơn vị hành chính mà mình là đại biểu Hội đồng nhân dân. Quy định này nhằm bảo đảm đại biểu có sự gắn kết chặt chẽ với địa phương; tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện vai trò đại diện, nắm bắt thực tiễn và giám sát hiệu quả việc thực thi pháp luật tại địa phương.
Tuy ông T không cư trú tại thành phố N, nhưng ông đang công tác tại doanh nghiệp trên thành phố N nên ông T có đủ tiêu chuẩn về nơi công tác để trở thành đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố N.
Tình huống 14: Do vấn đề ô nhiễm môi trường của nhà máy sản xuất xi măng gây ra trên địa bàn trong thời gian dài, ông Nam đã vận động và thu thập chữ ký của người dân trong xã vào đơn yêu cầu Hội đồng nhân dân xã A tổ chức kỳ họp để bàn về phương án giải quyết vấn đề này. Đơn yêu cầu có 200 cử tri trong xã ký tên và có kèm theo đầy đủ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ của từng người ký tên. Biết rằng xã A có tổng cộng 4.852 cử tri. Đề nghị cho biết đơn yêu cầu này của các cử tri xã A có được chấp thuận không?
Trả lời
Căn cứ khoản 4 Điều 34 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định về kỳ họp Hội đồng nhân dân đó là: “4. Cử tri ở cấp xã có quyền làm đơn yêu cầu Hội đồng nhân dân cấp xã họp, bàn và quyết định những công việc của cấp xã. Khi trong đơn yêu cầu có chữ ký của trên 10% tổng số cử tri của cấp xã thì Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân chuyên đề hoặc họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất để bàn về nội dung mà cử tri kiến nghị. Đơn yêu cầu của cử tri được xem là hợp lệ khi có kèm theo đầy đủ chữ ký, họ tên, ngày, tháng, năm sinh và địa chỉ của từng người ký tên. Những người ký tên trong đơn yêu cầu được cử một người làm đại diện tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân bàn về nội dung mà cử tri kiến nghị”.
Xét về đơn yêu cầu của cử tri, đơn yêu cầu có 200 cử tri trong xã ký tên và có kèm theo đầy đủ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ của từng người ký tên nên căn cứ quy định trên, đơn yêu cầu được xem là hợp lệ. Tuy nhiên, tỷ lệ số cử tri ký vào đơn yêu cầu chỉ chiếm 4,12% tổng số cử tri của xã A, tỷ lệ này chưa đáp ứng yêu cầu trên 10% theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, Thường trực Hội đồng nhân dân xã A không bắt buộc phải tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân để giải quyết vấn đề cử tri xã A kiến nghị.
Chuyên trang tư vấn pháp luật trực tuyến, tài liệu thi công chức, viên chức
