Một số bạn đọc đề nghị trangtinphapluat.com hướng dẫn những trường hợp nào người dân được đề nghị và cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định hủy quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Trường hợp sau khi đã được cơ quan nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không đủ tiền để nộp thuế thì có được xin hủy quyết định chuyển mục đích hay không?.
Quy định về căn cứ chuyển mục đích sử dụng đất
Khoản 5 Điều 116 Luật Đất đai năm 2024 quy định căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất:
Căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở hoặc chuyển mục đích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân là quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

Thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
Theo khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai : Người có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang mục đích khác mà không phải trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai (đã hết hiệu lực từ 31/01/2026 theo Nghị định 49/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai) thì thẩm quyển cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là của Chủ tịch UBND cấp xã.
Những trường hợp được điều chỉnh quyết định chuyển mục đích
Quy định của pháp luật đất đai
Theo khoản 1 Điều 44a Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 49/2026/NĐ-CP thì Việc điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thực hiện trong các trường hợp sau đây:
+ Khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có nội dung làm thay đổi căn cứ quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 116 của Luật Đất đai;

+ Trường hợp có sai sót về ranh giới, vị trí, diện tích, mục đích sử dụng giữa bản đồ quy hoạch, bản đồ địa chính, quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và số liệu bàn giao đất trên thực địa.
Như vậy, Luật Đất đai không có quy định về hủy bỏ, điều chỉnh quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Chỉ đến Nghị định 49/2026/NĐ-CP mới bổ sung quy định về điều chỉnh quyết định chuyển mục đích sử dụng đất, không quy định về hủy quyết định chuyển mục đích sử dụng đất.
Quy định của các văn bản pháp luật khác
+ Theo quy định tại khoản 15 Điều 23 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 thì Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền: Ban hành quyết định và các văn bản hành chính khác về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình; bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế văn bản do mình ban hành khi xét thấy không còn phù hợp hoặc trái pháp luật.
+ Theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định 30/2020/NĐ-CP của Chính phủ về công tác văn thư thì: Văn bản đã phát hành nhưng có sai sót về nội dung phải được sửa đổi, thay thế bằng văn bản có hình thức tương đương. Văn bản đã phát hành nhưng có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày, thủ tục ban hành phải được đính chính bằng công văn của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản.

Như vậy, theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Nghị định 30/2020/NĐ-CP thì văn bản đã phát hành chỉ được bãi bỏ, sửa đổi, thay thế khi có sai sót về nội dung, không còn phù hợp hoặc trái pháp luật.
Còn theo Nghị định 49/2026/NĐ-CP thì chỉ được điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (không đề cập đến việc hủy bỏ, bãi bỏ) khi căn cứ cho phép chuyển mục đich sử dụng đất bị thay đổi bởi văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trường hợp có sai sót về ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng đất giữa quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và số liệu bàn giao đất trên thực địa.
Do đó, trường hợp người dân sau khi có đơn đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nhưng do không đủ tài chính để nộp tiền chuyển mục đích hoặc vì lý do cá nhân khác mà có đơn đề nghị hủy quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì không có cơ sở pháp lý để hủy quyết định chuyển mục đích sử dụng đất.
Rubi
Chuyên trang tư vấn pháp luật trực tuyến, tài liệu thi công chức, viên chức
