Vướng mắc của Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt (phần 2)

Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc những vướng mắc, bất cập về  chế tài, hình phạt, tội danh trong Bộ  luật Hình sự (BLHS), cụ thể như sau:

Bài 1: Vướng mắc của Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt

1. Các quy định về hình phạt chưa thực đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, cũng như chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội; tạo điều kiện để người phạm tội được tiếp tục lao động, cống hiến cho xã hội còn nhiều bất cập

– Chế tài

hình phạt tử hình trong BLHS đã thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội; tuy nhiên tội phạm áp dụng hình phạt tử hình vẫn còn rộng, chưa đáp ứng các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về quyền chính trị và dân sự mà Việt Nam là thành viên, trong đó, khuyến cáo các quốc gia thành viên chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với các “tội ác nghiêm trọng”.

Bên cạnh đó, liên quan đến hình phạt tử hình, BLHS hiện hành chưa quy định  về việc khi hết thời hiệu thi hành bản án tử hình thì người bị kết án được chuyển xuống tù chung thân, gây khó khăn trong một số trường hợp.

Tìm hiểu bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017
Hình phạt tử hình

– Về hình phạt tiền:

+ Phạm vi các tội danh áp dụng hình phạt tiền trong BLHS hiện hành còn tương đối hẹp, chưa bao quát hết các trường hợp nên áp dụng hình phạt tiền trong thực tiễn như đối với người phạm tội rất nghiêm trọng thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ để thể chế hóa quan điểm của Đảng về tăng cường hình phạt tiền, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị thiệt hại do tội phạm gây ra theo tinh của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp, đồng thời phù hợp với quan điểm về phòng, chống tham nhũng được nêu tại các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XIII và XIV.

+ Mức phạt tiền tối thiểu tại Điều 35 (đối với cá nhân) và Điều 77 (Đối với pháp nhân thương mại) là tương đối thấp, chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội, chưa tính đến sự thay đổi của mức lương cơ sở và thu nhập bình quân đầu người của người dân ở thời điểm hiện tại so với thời điểm năm 2009 và năm 2015; bên cạnh đó, chưa đáp ứng được khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) và Nhóm châu Á- Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG) về hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại .

+ Mức hình phạt tiền của một số tội danh chưa thực sự phù hợp: mức phạt  tiền ở một số nhóm tội có tính chất thu lợi nhuận bất chính như: Các tội trong lĩnh  vực sản xuất, kinh doanh, thương mại; các tội trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngânhàng, chứng khoán, bảo hiểm và các tội khác xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông còn thấp chưa phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước. Thực tiễn cho thấy, các đối tượng phạm tội nêu trên đều thu lợi bất chính rất lớn, có những vụ án lên đến hàng nghìn tỷ đồng, do đó, cần thiết phải nâng mức phạt tiền để bảo đảm tính răn đe và nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản bị tội phạm xâm hại.

+ Hiện nay, BLHS năm 2015 xác định phạt tiền là một trong các hình phạt chính; đồng thời, Điều 35 cho phép áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với một số trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và cả một số trường hợp rất nghiêm trọng trong các nhóm tội nhất định do Bộ luật quy định. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật lập pháp, Bộ luật chủ yếu thiết kế theo hướng “có thể phạt tiền” hoặc “phạt tiền hoặc phạt tù”, chứ chưa hình thành một nguyên tắc khái quát theo  hướng: trong một số trường hợp luật định, Tòa án chỉ quyết định hình phạt tiền thay vì hình phạt tù. Trong khi đó, Điều 38 khoản 2 mới chỉ ghi nhận một ngoại lệ khá hẹp là không áp dụng tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng. Việc thiếu quy định trên dẫn đến một số bất cập như sau:

Thứ nhất, thiếu một cơ sở pháp lý đủ mạnh để hạn chế hình phạt tù ngắn hạn.

Dù Điều 32 đã ghi nhận phạt tiền là hình phạt chính, nhưng nếu điều luật cụ thể vẫn để mở giữa tiền và tù, Tòa án trên thực tế vẫn có xu hướng lựa chọn tù trong không ít trường hợp nhằm bảo đảm tính nghiêm khắc. Hệ quả là định hướng “giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ” đã được nêu trong các tài liệu chính sách và truyền thông chính thức về hoàn thiện pháp luật hình sự chưa được thể hiện đầy đủ bằng một quy tắc bắt buộc ngay trong phần chung của Bộ luật.

Bài giảng Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
Vướng mắc của Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt

Thứ hai, làm giảm tính thống nhất trong quyết định hình phạt. Khi pháp luật không quy định rõ các trường hợp bắt buộc ưu tiên phạt tiền, việc lựa chọn giữa tiền và tù phụ thuộc nhiều vào đánh giá của từng Hội đồng xét xử. Với cùng tính chất vụ án, cùng mức độ nguy hiểm cho xã hội và cùng điều kiện nhân thân, khả năng xuất hiện chênh lệch trong áp dụng hình phạt giữa các địa phương hoặc giữa các cấp xét xử là lớn hơn. Đây là bất cập về dự báo pháp lý và về bảo đảm công bằng trong lượng hình. Việc Bộ luật hiện chỉ có một trường hợp “không áp dụng tù” rất hẹp ở Điều 38 khoản 2 càng cho thấy khoảng trống này.

Thứ ba, chưa khai thác đầy đủ chức năng khắc phục hậu quả, bồi hoàn và thu hồi lợi ích bất hợp pháp của hình phạt tiền. Đối với nhiều nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng hoặc các hành vi vụ lợi, phạt tiền trong nhiều trường hợp có thể tác động trực tiếp hơn vào động cơ kinh tế của người phạm tội. Điều 35 hiện đã thừa nhận khả năng áp dụng phạt tiền với cả một số trường hợp rất nghiêm trọng thuộc các lĩnh vực này, nhưng nếu không có cơ chế “chỉ phạt tiền” trong những trường hợp đủ điều kiện, thì việc ưu tiên tù giam vẫn có thể lấn át mục tiêu phục hồi tài sản và bù đắp thiệt hại.

Thứ tư, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nhân đạo hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự. Mục tiêu của hình phạt trong BLHS không chỉ là trừng trị mà còn là giáo dục, phòng ngừa; đồng thời, định hướng cải cách tư pháp nhiều năm qua đều nhấn mạnh giảm tù, mở rộng chế tài không tước tự do. Nếu không bổ sung cơ chế bắt buộc lựa chọn phạt tiền trong một số trường hợp như người phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã khắc phục toàn bộ hậu quả, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội, thì chính sách hình sự vẫn nghiêng nhiều về trừng phạt hơn là phục hồi và tái hòa nhập.

Thứ năm, làm tăng áp lực lên hệ thống giam giữ và thi hành án hình sự. Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành tại cơ sở giam giữ; do đó, bất kỳ phạm vi nào của hình phạt tù còn được giữ rộng không cần thiết đều kéo theo chi phí quản lý, tổ chức thi hành án và tái hòa nhập. Trong khi đó, người bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc án treo lại có các cơ chế thi hành, xóa án tích, thời hiệu thi hành bản án khác theo hướng nhẹ hơn. Điều này cho thấy việc thiếu một “van pháp lý” để buộc ưu tiên phạt tiền trong một số trường hợp có thể làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực tư pháp hình sự.

– Phạm vi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ còn hẹp dẫn đến hạn chế áp dụng trong một số trường hợp cụ thể trên thực tiễn như: người phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại và có đủ các điều kiện quy định khác. Chưa phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư  pháp “Coi trọng việc hoàn thành chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đềcao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm  hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm”.

– Mức phạt tù ở một số loại tội danh có nhiều diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tự do của con người; các tội về kinh doanh, thương mại, hàng giả, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, môi trường… còn thấp chưa tương xứng, chưa bảo đảm tính tính răn đe, phòng ngừa tội phạm và bảo đảm tính công bằng trong chính sách hình sự. Có thể khái quát như sau:

Thực tiễn cho thấy, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tự do của con người không chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho cá nhân bị hại mà còn gây bất ổn xã hội, làm suy giảm niềm tin của người dân vào khả năng bảo vệ của pháp luật. Đặc biệt, trong điều kiện mạng xã hội, công nghệ số, AI, deepfake phát triển, các hành vi làm nhục, vu khống, xâm phạm đời tư, danh dự, nhân phẩm có thể lan truyền với tốc độ rất nhanh, phạm vi rộng, hậu quả kéo dài, khó khắc phục, nhưng chế tài tù ở một số tội vẫn còn thấp. Đối với các tội về kinh doanh, thương mại, hàng giả, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, môi trường, tính chất nguy hiểm không chỉ nằm ở thiệt hại tài sản mà còn ở nguy cơ xâm hại sức khỏe cộng đồng, phá vỡ  trật tự quản lý kinh tế, làm méo mó môi trường cạnh tranh, suy giảm niềm tin thị trường, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh kinh tế, an ninh y tế, an ninh môi trường.

Số liệu năm 2025 cho thấy toàn quốc vẫn xảy ra 48.011 vụ phạm tội về trật tự xã hội, 3.739 vụ phạm tội về trật tự quản lý kinh tế, 488 vụ phạm tội về môi trường, an toàn thực phẩm và 25.753 vụ phạm tội về ma túy.

Danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy
Tội phạm ma túy

Qua rà soát, đánh giá thấy rằng, mức hình phạt tù hiện hành ở một số tội danh còn thấp, chưa tương xứng với hậu quả và diễn biến mới của tội phạm, một số tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự, tự do của con người có mức khởi điểm hình phạt tù rất thấp hoặc cấu thành cơ bản chưa đặt hình phạt tù là chế tài bắt buộc. Ví dụ, tội làm nhục người khác tại Điều 155 có cấu thành cơ bản chỉ phạt cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ; khung tăng nặng đầu tiên mới có mức phạt tù từ 03  tháng đến 02 năm. Tội vu khống tại Điều 156 có mức phạt tù ở cấu thành cơ bản từ 03 tháng đến 01 năm. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật tại Điều 157 có  khung cơ bản từ 06 tháng đến 03 năm tù. Trong khi đó, trên thực tế, hành vi làm nhục, vu khống, xâm phạm danh dự, nhân phẩm hiện nay có thể được thực hiện trên không gian mạng, có tổ chức, có chủ đích hạ uy tín, xúc phạm nhân phẩm, gây tổn thương tâm lý nghiêm trọng, thậm chí làm nạn nhân tự sát, mất việc làm, mất cơ hội hoặc bị kỳ thị kéo dài. Do đó, mức phạt tù khởi điểm thấp ở các tội này có thể chưa đủ sức răn đe, nhất là đối với trường hợp sử dụng mạng xã hội, nền tảng số, công nghệ deepfake, tài khoản ẩn danh để xâm hại danh dự, nhân phẩm của nhiều người.

Đối với nhóm tội sản xuất, buôn bán hàng giả, mức hình phạt tù ở một số điều cũng cần tiếp tục rà soát. Điều 192 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả có khung cơ bản từ 01 năm đến 05 năm tù; Điều 195 về hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc  thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi cũng có khung cơ bản từ 01 năm đến 05 năm tù; Điều 193 về hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm có khung cơ bản từ 02 năm đến 05 năm tù; Điều 194 về hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh có khung cơ bản từ 02 năm đến 07 năm tù. Về môi trường, Điều 235 hiện quy định tội gây ô nhiễm môi trường có khung cơ bản phạt tiền hoặc phạt tù từ 02 năm đến 03 năm; khung tăng nặng cao nhất đối với cá nhân là từ 05 năm đến 07 năm tù. Trong bối cảnh ô nhiễm môi trường, xả thải trái phép, chôn lấp chất thải nguy hại, vi phạm về an toàn thực phẩm, thuốc chữa bệnh có thể  gây hậu quả lâu dài, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng, làm suy giảm tài nguyên, gây thiệt hại lớn cho xã hội, mức hình phạt tù này cần được tiếp tục đánh giá về tính tương xứng.

Bài giảng tuyên truyền Luật An ninh mạng và Bộ quy tắc ứng xử trên môi trường mạng xã hội
Quy tắc ứng xử của CBCCVC trên mạng xã hội

Bên cạnh đó, mức hình phạt tù ở một số tội danh chưa tương thích với các tội danh khác có cùng tính chất, cùng hậu quả hoặc cùng mức độ xâm hại, cụ thể như:

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại Điều 260 có khung cơ bản từ 01 năm đến 05 năm tù khi làm chết người; trong khi một số hành vi trong lĩnh vực thực phẩm, môi trường, sản xuất, kinh doanh có khả năng gây nguy hại cho  số đông, nhưng mức khởi điểm hoặc mức tối đa ở một số khung vẫn chưa phản ánh  đầy đủ tính chất “nguy cơ cộng đồng”. Đối với nhóm tội kinh tế – thương mại, cũng có sự chênh lệch đáng chú ý. Tội buôn lậu tại Điều 188 có khung cơ bản từ 06 tháng  đến 03 năm tù và khung cao nhất từ 12 năm đến 20 năm tù nếu vật phạm pháp hoặc thu lợi bất chính từ 01 tỷ đồng trở lên. Trong khi đó, một số tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả, quyền liên quan tuy có thể gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng môi trường kinh doanh và niềm tin thị trường, nhưng khung tù đối với cá nhân ở mức cao nhất mới từ 06 tháng đến 03 năm tù. Đối với tội trốn thuế, Điều 200 quy định cấu thành cơ bản có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm; trường hợp trốn thuế từ 01 tỷ đồng trở lên thì phạt tiền hoặc phạt tù từ 02 năm  đến 07 năm. Mức này cần tiếp tục rà soát trong tương quan với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế khác, nhất là khi hành vi trốn thuế có tổ chức, sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, thương mại điện tử, giao dịch xuyên biên giới, tài sản số hoặc mô hình kinh doanh mới có thể gây thất thu ngân sách lớn, làm méo mó cạnh tranh và ảnh hưởng an ninh tài chính quốc gia.

– BLHS hiện hành chưa có quy định về hình phạt “Lao động công ích”. Theo nghiên cứu, đây là một hình phạt tương đối phổ biến trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới như: Mỹ, Nga, các nước EU… Việc áp dụng hình phạt này giúp đa dạng hình phạt trong hệ thống hình phạt của BLHS; có ý nghĩa giáo dục, phục hồi và phòng ngừa tái phạm; khắc phục hạn chế của hình phạt tiền; giúp giảm áp lực cho hệ thống giam giữ và chi phí xã hội của việc chấp hành án tù…

– BLHS hiện hành chưa có quy định về biện pháp giám sát điện tử đối với những người bị áp dụng hình phạt ngoài tù hoặc các biện pháp tư pháp ở cộng đồng. Việc thiếu quy định về áp dụng biện pháp giám sát điện tử sẽ làm giảm hiệu quả kiểm soát việc chấp hành nghĩa vụ của người chấp hành án tại cộng đồng; không bảo đảm hiệu quả công tác quản lý nhà nước, phòng ngừa vi phạm và tái phạm; đồng thời, nếu bổ sung biện pháp giám sát điện tử, có thể tạo thuận lợi cho việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng các hình phạt ngoài cộng đồng.

– Căn cứ để quyết định hình phạt theo quy định hiện hành là chưa thực sự chặt chẽ và bao quát, các tình tiết dùng làm căn cứ quyết định hình phạt còn chung chung, chưa bảo đảm tính phân hóa tội phạm, chưa thể hiện tinh thần nhân đạo, khoan hồng trong quyết định hình phạt đối với các trường hợp người phạm tội đã ăn năn hối cải, khắc phục phục toàn bộ hậu quả và bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra.

2.  Các quy định về tình tiết định tội, định khung hình phạt chưa thống nhất, khó áp dụng

– Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành các điều, khoản, điểm của BLHS là tương đối đa dạng, đặc biệt là hệ thống các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trong đó, nhiều quy định hướng dẫn tại các nghị quyết đã được áp dụng lâu dài, có tính ổn định và phù hợp với thực tiễn, tuy nhiên, các quy định này vẫn nằm ở các văn bản dưới luật. Để bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, cần thiết phải rà soát, nghiên cứu đưa các quy định này vào BLHS.

Slide bài giảng Hiến pháp năm 2013
Hiến pháp năm 2013

– Kết quả tổng kết cho thấy, BLHS hiện hành còn nhiều tình tiết định tính, khó áp dụng, gây nhiều cách hiểu khác nhau của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền. Mặc dù đã có nhiều văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành, tuy nhiên, vẫn còn nhiều tính tiết định tính trong BLHS vẫn chưa rõ ràng, dễ dẫn đến tùy nghi và tiêu cực trong áp dụng, ví dụ nh2 BLHS  : tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự”; tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”…

– Hiện nay, BLHS có 85 tội danh có quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính”; 65 tội danh quy định dấu hiệu “đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” và 29 tội danh quy định dấu hiệu “đã bị xử lý kỷ luật”, qua tổng kết thấy rằng, phạm vi như trên chưa thực sự phù hợp, nhiều tội danh có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, có thể khắc phục được bằng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc xử lý kỷ luật thì không nên quy định các tình tiết này là tình tiết định tội nhằm hướng đến mục tiêu không hình sự hóa các hành vi có  tính nguy hiểm không đáng kể; trong khi đó, một số tội danh cần phải quy định tình tiết này làm tình tiết định tội thì lại chưa có quy định dẫn đến làm giảm hiệu quả phòng ngừa tội phạm. Do đó, cần thiết phải rà soát và quy định lại cho phù hợp; bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân, thể hiện tốt hơn chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước.

– Mức định lượng làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự là tiền ở một số tội danh như các tội quy định tại Chương XVI (Các tội xâm phạm sở hữu) và Chương XXIII (Các tội phạm về chức vụ) và một số các tội phạm khác như Tội đánh bạc, Tội tổ chức đánh bạc là quá thấp, dễ dẫn đến hình sự hóa các hành vi có tính nguy hiểm không đáng kể; trong khi đó, mức định lượng làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự ở các tội danh về môi trường, bảo vệ động vật hoang dã lại quá cao, dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm, chưa phù hợp với quan điểm của Đảng về không đánh đổi kinh tế với môi trường.

– Cách tính mức định lượng về tỷ lệ tổn thương cơ thể làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tập trung tại Chương XIV – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và Chương XXI – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng giữa nhiều tội danh trong BLHS chưa đảm bảo sự phù hợp, thống nhất và công bằng. Đối với nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác thì tỷ lệ tổn thương cơ thể làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được tính ở mỗi người bị hại đối với cả tội có lỗi cố ý tại các điều 134, 135, 136… (là 11% trở lên) và các tội có lỗi vô ý tại các điều 138 và 139 (là 31% trở lên). Tuy nhiên, đối với nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông, đều là nhóm tội có lỗi vô ý tại các điều 260, 261, 262, 263, 264… thì tỷ lệ tổn thương cơ thể làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự lại tính trên tổng số người bị hại mà không phải mỗi người bị hại (kể cả những người có tỷ lệ tổn thương cơ thể 01% hoặc 02% vẫn cộng dồn để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự). Trong khi đó, nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người thì tính mạng, sức khỏe của con người là khách thể trực tiếp bị xâm hại, còn với nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông thì tính mạng, sức khỏe con người chỉ là khách thể gián tiếp bị xâm hại.

đ) Một số tội danh mới, các hành vi mới chưa được quy định trong BLHS nên chưa bảo đảm tính bao quát, toàn diện, chưa kịp thời thể chế hoá các quan điểm của Đảng về xây dựng, phát triển đất nước và phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, chưa nội luật hoá các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, chưa giải quyết được những vấn đề vướng mắc, bất cập mà thực tiễn công tác phòng, chống tội phạm đặt ra Hiện nay, BLHS chưa có quy định để điều chỉnh đối với một số hành vi hoặc vấn đề hình sự nảy sinh trong thực tiễn hoặc thực tiễn yêu cầu: Qua rà soát thấy rằng, hiện nay, BLHS chưa có các quy định để thể chế hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng, bảo vệ đất nước và phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; chưa nội luật hóa các điều ước quốc tế, khuyến nghị của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên; chưa theo kịp thực tiễn tình hình tội phạm có nhiều diễn biến mới, nhiều loại hành vi mới. Cụ thể như:

– Điều 117 (tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) chỉ quy định về hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chưa quy định về hành vi tuyên truyền chống Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể vận dụng quy định tại điều luật này để đấu tranh, xử lý đối với những hành vi dạng này hay không hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, việc thiếu quy định để điều chỉnh với hành vi chống Đảng Cộng sản Việt Nam là chưa phù hợp với vị trí, vai trò và tầm quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị, là chủ thể đặc biệt quan trọng cần phải bảo vệ.

– Tại Điều 150 (Tội mua bán người) và Điều 151 (Tội mua bán người dưới 16 tuổi) quy định chưa bao quát hết các hành vi mua bán người được quy định tại Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và chưa thể  hiện đầy đủ các hành vi mua bán người được quy định trong Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng, chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, do đó, để bảo đảm tính bao quát, cần thiết quy định theo hướng khái quát, các hành vi cụ thể sẽ căn cứ vào luật chuyên ngành.

– Tổng kết thực tiễn cho thấy, có tình trạng một số đối tượng mua bán “bào thai”, tức là đối tượng mua bán và trao đổi ngay từ khi đứa trẻ đang được mang thai. Nếu áp dụng quy định tại Điều 150 (Tội mua bán người) và Điều 151 (Tội mua bán người dưới 16 tuổi) để xử lý các đối tượng này thì không hợp lý, bởi lẽ theo pháp luật hình sự và pháp luật liên quan thì chỉ được coi là con người và có quyền công dân khi mà đứa trẻ được sinh ra; đồng thời, nếu áp dụng Điều 154 (Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người) để xử lý đối tượng này cũng không phù hợp vì bào thai không phải là mô, cũng không phải là bộ phận cơ thể người. Do đó, cần phải bổ sung cơ sở pháp lý để xử lý hành vi này, tránh bỏ lọt tội phạm, bảo đảm cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền con người.

Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Tội mua bán người

– Việc quy định hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là chất hỗ trợ chế biến thực phẩm và dụng cụ bao gói, chứa đựng thực phẩm như hiện tại chưa điều chỉnh được hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là chất hỗ trợ chế biến thực phẩm và dụng cụ bao gói, chứa đựng thực phẩm, chưa đảm bảo cơ sở pháp lý để phòng ngừa và đấu tranh với loại hành vi này, trong khi đó, tình trạng sản xuất, buôn bán chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, bao gì giả đang diễn ra phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ gây hại rất cao đối với sức khỏe con người.

– Hiện nay, việc xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả và hàng kém chất lượng đang chưa có sự tách biệt rõ ràng; thực tế cho thấy, mức độ nguy hiểm của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả và hành vi sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng là hoàn toàn khác nhau, do vậy, nếu áp dụng cùng một điều luật để xử lý đồng thời các hành vi là chưa phân hóa được tội phạm, chưa thực sự bảo đảm tính công bằng của pháp luật hình sự.

– Khoản 2 Điều 18.78 Hiệp định CPTPP yêu cầu các quốc gia thành viên phải xử lý hình sự và áp dụng hình phạt đối với hành vi chiếm đoạt một cách cố ý và trái phép bí mật thương mại. Qua rà soát quy định của BLHS thì thấy rằng chưa có quy  định xử lý hình sự đối với hành vi chiếm đoạt một cách cố ý và trái phép bí mật thương mại; hiện nay để xử lý hành vi này chỉ có thể vận dụng một số quy định của BLHS để xử lý, đặc biệt là quy định tại Điều 288 BLHS về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông để xử lý. Tuy nhiên, việc vận dụng quy định này có phần khiên cưỡng và chưa đáp ứng đúng bản chất của hành vi cũng như yêu cầu của Hiệp định mặc dù Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 08/2021/NQ-UBTVQH15 ngày 26/11/2021, giải thích khoản 1 Điều 289 của BLHS để xử hành vi vi phạm bí mật thương mại.

– Hiện nay, BLHS chưa có tội danh độc lập, trực tiếp về hành vi vi phạm quy định về định giá, kiểm toán, kiểm định, giám định gây hậu quả nghiêm trọng. Quá trình điều tra các vụ án tham nhũng, kinh tế, khi phát hiện hành vi phạm tội của các chủ thể thẩm định giá, kiểm toán, kiểm định, giám định thì phải khởi tố các đối tượng này về một tội danh khác (như tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí…) với vai trò là đồng phạm, giúp sức cho các đối tượng chủ mưu, cầm đầu. Về bản chất, người đứng đầu và các cá nhân thuộc cơ quan, doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ thẩm định giá, kiểm toán, kiểm định, giám định trái pháp luật nhưng lại chỉ bị xử lý vai trò giúp sức trong các tội danh khác là không phù hợp, chưa bảo đảm tính công bằng, làm giảm tính răn đe, phòng ngừa đối với hành vi.

– Hiện nay, Điều 206 (Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng) chưa quy định đầy đủ phạm vi trong hoạt động ngân hàng mà chỉ quy định một số hành vi cơ bản trong cấp tín dụng, cho vay. Trong khi ngân hàng có nhiều hoạt động khác như bảo lãnh tín dụng, quản lý tài sản bảo đảm, quản lý khoản vay sau giải ngân… Các hoạt động này nếu có vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng thì không có cơ sở pháp lý để xử lý hình sự.

– Một số hành vi vi phạm Luật Bảo hiểm xã hội có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nhưng chưa được quy định thành các tội phạm trong nhóm các tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm, cụ thể là: Hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan bảo hiểm sử dụng trái pháp luật đối với quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp gây hậu quả nhất định.

– Hiện nay, trong các hành vi của tội gây ô nhiễm môi trường và tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại chưa có quy định về hành vi đốt chất thải, nhất là đối với các chất thải nguy hại. Bên cạnh đó, hiện cũng chưa có quy định về hành vi gây ra trái phép tiếng ồn, độ rung và mùi vượt tiêu chuẩn nên chưa có cơ chế xử lý hình sự đối với người thực hiện các hành vi này.

– Hiện nay, BLHS hiện hành chưa có quy định để xử lý hình sự đối với các hành vi sử dụng các loại hóa chất, phương tiện, công cụ đánh bắt động vật có tính chất tận diệt như: dùng kích điện, dùng sóng cao tần, dùng hóa chất độc hại… Việc xác định giá trị gây thiệt hại trong các trường hợp trên để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự là rất khó, trong nhiều trường hợp là không thể. Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm của hành vi nêu trên là rất lớn, gây tận diệt sinh vật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đa dạng sinh học. Thực tiễn cho thấy, việc đánh bắt tận diệt đã và đang biến các con sông thành “sông chết”, do đó, cần phải có chế tài nghiêm khắc hơn để xử lý, thay vì chỉ xử lý hành chính như hiện nay.

– Điều 302 chỉ quy định về hành vi cướp trên biển, chưa có quy định về hành vi cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền trên vùng biển thuộc thẩm quyền tài phán của một quốc gia. Trong khi đó, hành vi cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền trên biển theo quy định của Hiệp định hợp tác khu vực về chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền tại Châu Á mà Việt Nam là thành viên có quy định các hành vi, mục đích của cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền trên biển là tương đối đặc thù, khác với hành vi cướp tài sản đơn thuần, cụ thể như sau: “Cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền nghĩa là một trong các hành vi sau đây: a) bất ký hành vi bạo lực hoặc bắt giữ trái phép hoặc bất kỳ hành vi cướp phá nào được thực hiện vì mục đích cá nhân và nhằm chống lại tàu hoặc người hoặc tài sản trên tàu đó tại một địa điểm mà một bên có quyền tài phán đối với hành vi đó; b) bất kỳ hành vi nào có tính chất tự nguyện tham gia vào việc điều khiển tàu và nhận thức rằng việc này sẽ khiến chiếc tàu đó trở thành tàu cướp có vũ trang chống lại tàu khác; c) bất kỳ hành vi nào xúi dục hoặc cố ý tạo thuận lợi cho các hành vi được nêu tại điểm a và điểm b.

– Hiện nay, Việt Nam là thành viên của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) và Nhóm châu Á- Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG). Từ năm 2023, Việt Nam bị các tổ chức này đưa vào Danh sách giám sát tăng cường (danh sách xám), việc bị đưa vào danh sách xám đã và đang khiến Việt Nam gặp những bất lợi lớn trong các hoạt động kinh tế, thương mại và hợp tác quốc tế như: ảnh hưởng đến dòng vốn FDI; hạn chế nguồn cho vay ưu đãi; tăng mức lãi suất ở các khoản vay; hệ thống tài chính, ngân hàng bị ảnh hưởng uy tín và mức độ đánh giá… Nếu thời gian tới, chúng ta không nỗ lực giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kỹ thuật trong tội rửa tiền của Việt Nam đối với Khuyến nghị số 3 thuộc bộ chuẩn mực của FATF thì rất có thể các biện pháp tiêu cực về kinh tế, thương mại và đối ngoại đối với Việt Nam sẽ được tăng cường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đà tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là với tham vọng tăng trưởng “hai chữ số” được Đảng và Nhà nước đề ra trong những năm tiếp theo. Theo đó, các khuyến nghị này bao gồm:

+ Điều 299 (Tội khủng bố) chưa liệt kê đầy đủ tất cả các hành vi của Công ước quốc tế về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố. Chưa đáp ứng Tiêu chí 5.1, Mục 79, 82 Báo cáo đánh giá đa phương tháng 01/2022 của APG.

+ Tại Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố):

Thứ nhất, Tội danh tài trợ khủng bố được hình sự hóa tại Điều 300 BLHS năm 2015, tuy nhiên, Điều này chỉ hình sự hóa việc huy động và cung cấp tiền hoặc tài sản cho các tổ chức khủng bố hoặc cá nhân khủng bổ mà chưa rõ có bao gồm tất cả các hành vi cấu thành tội phạm trong các điều ước được liệt kê trong phụ lục của Công ước quốc tế về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố năm 1999 hay chưa (Tiêu chí 5.1, mục 79, 82 Báo cáo đánh giá đa phương tháng 01/2022). Hơn nữa, vì các hành vi tài trợ khủng bố bị hình sự hóa như là hành vi chuẩn bị cho khủng bố nên có sự hoài nghi rằng liệu các khía cạnh cụ thể của Điều 2 của Công ước tài trợ khủng bố có được bao gồm hay chưa, nghĩa là hành vi tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp; các sự nhận thức cần thiết hoặc cố tình; tài trợ toàn phần hay một phần… Không nhất thiết là các khoản tiền đó phải thực sự được sử dụng để thực hiện một vụ tấn công khủng bố để cấu thành hành vi chuẩn bị cho tài trợ khủng bố (Điều 300).

Thứ hai, Việc sửa đổi nhằm đảm bảo hành vi tài trợ khủng bố cần được mở rộng đến bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cố ý cung cấp tiền, tài sản bằng bất kỳ phương thức nào, trực tiếp hoặc gián tiếp với mục đích bất hợp pháp để sử dụng hoặc biết rằng sẽ được sử dụng, toàn bộ hoặc một phần (a) để thực hiện một hoặc nhiều hành vi khủng bố hoặc (b) bởi một tổ chức khủng bố hoặc cá nhân khủng bố…

Thứ ba, BLHS năm 2015 không hình sự hóa cụ thể hành vi tài trợ cho việc đi lại của các cá nhân đến một quốc gia khác ngoài quốc gia cá nhân đó cư trú hoặc có quốc tịch nhằm mục đích thực hiện, lập kế hoạch, hoặc chuẩn bị, hoặc tham gia vào các hành vi khủng bố hoặc tiến hành cung cấp hoặc nhận đào tạo khủng bố. Vì thuật  ngữ khủng bố không được định nghĩa trong luật pháp Việt Nam, nên không rõ liệu hành vi phạm tội chung về tài trợ khủng bố (Điều 300) có được mở rộng bao gồm cho cả những cá nhân này hay không (Tiêu chí 5.2, mục 86 Báo cáo đánh giá đa phương tháng 01/2022);

Thứ tư, các hành vi phạm tội tài trợ khủng bố được phải được áp dụng, bất kể người bị cáo buộc đã phạm tội có ở cùng quốc gia hay khác với quốc gia nơi có tổ chức khủng bố/khủng bố, hoặc nơi hành vi khủng bố đã xảy ra/sẽ xảy ra (Tiêu chí 5.10).

Còn tiếp

Tổng hợp từ hồ sơ thẩm định sửa đổi Bộ luật Hình sự

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *