Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc những vướng mắc, bất cập về loại trừ trách nhiệm hình sự, quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; bất cập tại các quy định mang tính nguyên tắc để làm cơ sở cho việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm và xây dựng các chương, điều cụ thể trong Bộ luật Hình sự (BLHS), cụ thể như sau:
Vướng mắc của Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt (phần 2)
I. Thực tiễn thi hành các quy định của BLHS đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập về loại trừ trách nhiệm hình sự, quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, cụ thể như sau:
1. Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
– Điều 25 BLHS chỉ mới quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự đối với rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, thiếu quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự đối với rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng mô hình sản xuất, kinh doanh mới, trong khi đó, việc áp dụng, thử nghiệm các mô hình sản xuất, kinh doanh mới là một trong những động lực của nền kinh tế, tuy nhiên lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro có thể gặp phải bộ có tư duy sáng tạo, cách làm đột phá, tháo gỡ, giải quyết những điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế, chính sách, tập trung vào những vấn đề chưa được quy định hoặc đã có quy định nhưng không phù hợp với thực tiễn, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực, tạo được chuyển biến mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung”. Do đó, cần thiết phải bổ sung quy định này, một mặt đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, một mặt thể chế hóa các quan điểm của Đảng trong thời gian gần đây.

– Theo quy định của Luật Công an nhân dân, Luật An ninh quốc gia thì biện pháp nghiệp vụ là một trong những biện pháp công tác Công an quan trọng để phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm. Thực tiễn cho thấy, đây là một trong những biện pháp hiệu quả để các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Như vậy việc tiến hành các biện pháp nghiệp vụ của cơ quan có thẩm quyền là công tác có cơ sở về mặt pháp lý và thực tiễn, xuất phát từ tính chất đặc thù, chuyên biệt trong công tác của các lực lượng Công an. Tuy nhiên, BLHS chưa có quy định để bảo đảm cơ chế bảo vệ đối với cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện biện pháp nghiệp vụ; chưa bảo đảm các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ được giao trong khuôn khổ pháp lý; đồng thời, chưa thể chế hóa được tinh thần của Quy định số 183-QĐ/TW ngày 18/9/2024 của Ban Chấp hành Trung ương về bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án (Quy định số 183).
2. Về miễn trách nhiệm hình sự
– Thực tiễn thi hành BLHS cho thấy có những hành vi vi phạm, gây thiệt hại nhưng vì mục đích phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh; không tham nhũng; mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cho địa phương, đất nước; có thể khắc phục toàn bộ hậu quả nhưng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự là chưa phù hợp với thực tiễn, chưa bảo đảm tính công bằng, chưa góp phần khuyến khích người phạm tội khắc phục hậu quả; đồng thời, chưa phân hóa được hành vi vi phạm mà có yếu tố tham nhũng với hành vi vi phạm mà không có yếu tố tham nhũng;
Liên quan đến chính sách này, thời gian qua, Đảng cũng đã ban hành các Nghị quyết về nội dung này như tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68); trong đó, chỉ đạo:
“Sửa đổi các quy định về pháp luật hình sự, dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự để bảo đảm nguyên tắc khi xử lý các sai phạm, vụ việc về dân sự kinh tế, ưu tiên áp dụng các biện pháp về dân sự, kinh tế, hành chính trước, cho phép các doanh nghiệp, doanh nhân được chủ động khắc phục sai phạm, thiệt hại. Trường hợp thực tiễn áp dụng pháp luật có thể dẫn đến xử lý hình sự hoặc không xử lý hình sự thì kiên quyết không áp dụng xử lý hình sự. Trường hợp đến mức xử lý hình sự thì ưu tiên các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế trước và là căn cứ quan trọng để xem xét các biện pháp xử lý tiếp theo. Không hồi tố các quy định pháp luật để xử lý bất lợi cho doanh nghiệp. Đối với các vụ việc thiếu chứng cứ, chứng cứ không rõ ràng phải sớm có kết luận, tránh ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, doanh nhân. Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong quá trình điều tra, xét xử các vụ án.” Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79);trong đó, xác định “Một trong những bất cập trong phát triển kinh tế Nhà nước đó là: Chính sách pháp luật về kinh tế nhà nước còn chậm đổi mới chưa theo kịp thực tiễn phát triển của nền kinh tế dẫn đến việc quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực, tài sản của Nhà nước chưa thật sự hiệu quả, còn lãng phí, thất thoát” qua đó đưa ra nhiệm vụ, giải pháp: “Cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế, thực hiện pháp luật nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả; tăng cường kỷ luật – kỷ cương, phù hợp với các cam kết quốc tế”; “Xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi”. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66); trong đó chỉ đạo: “…không hình sự hoá các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự…”; “Ưu tiên đảm bảo hiệu quả thi hành pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trong các lĩnh vực dân sinh quan trọng khác (an toàn thực phẩm, môi trường, an toàn trên không gian mạng….)”; “Công tác xây dựng pháp luật cần phải thể chế hoá đầy đủ, kịp thời, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng; xuất phát từ lợi ích toàn cục của đất nước; đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh; dứt khoát từ bỏ tư duy không quản được thì cấm; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được”. Kết luận số 182-KL/TW ngày 29/7/2025 của Bộ chính trị về quan điểm, chủ trương xử lý vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực chỉ đạo “giảm nhẹ các hành vi vi phạm nhưng vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, không tham nhũng, đã chủ động khắc phục hậu quả, ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng”.
Bên cạnh đó, để bảo đảm kỹ thuật lập pháp; bảo đảm tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật hình sự, khuyến khích người phạm tội khắc phục hậu quả, cần thiết phải quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người được hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người đó đáp ứng được các yêu cầu để được miễn.

– Theo quy định của BLHS hiện hành thì chỉ được miễn trách nhiệm hình sự sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự; tuy nhiên có những tin báo, tố giác tội phạm, trong giai đoạn giải quyết, cơ quan có thẩm quyền đã có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự nhưng lại chưa có quy định được miễn trách nhiệm hình sự ở giai đoạn này nên không thể miễn trách nhiệm hình sự mà phải khởi tố vụ án hình sự và các hoạt động khác, làm phát sinh các thủ tục tố tụng, không đáp ứng yêu cầu về tính nhân đạo, nhân văn của quy định này.
3. Về miễn hình phạt
Đối với cá nhân khi phạm các tội về kinh tế, môi trường… tại Điều 59 (Miễn hình phạt) nếu người phạm tội không nhằm mục đích thu lợi bất chính cho cá nhân, vì lợi ích chung, mặc dù đã áp dụng các biện pháp để quản lý rủi ro nhưng vẫn gây ra thiệt hại và họ đã khắc phục toàn bộ hậu quả và bồi thường toàn bộ thiệt hại nhưng cũng không được miễn hình phạt. Do đó, việc không miễn hình phạt đối với các trường hợp này là chưa phù hợp với mục đích chính của việc áp dụng hình phạt đối với các tội về kinh tế, môi trường là buộc khôi phục nguyên trạng và bồi thường thiệt hại tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân về phát triển kinh tế tư nhân. Theo đó, cần thể chế nội dung của Nghị quyết số 68 trong BLHS.
II. Thực tiễn thi hành các quy định của BLHS đã bộc lộ vướng mắc, bất cập tại các quy định mang tính nguyên tắc để làm cơ sở cho việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm và xây dựng các chương, điều cụ thể trong BLHS, cụ thể như sau:
– Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội: theo quy định tại khoản 2 Điều 14 BLHS thì phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ đối với 25 tội danh (điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324), tuy nhiên, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của hành vi phạm tội như nêu trên là không phù hợp với diễn biến của tình hình tội phạm vì có những tội danh hành vi chuẩn bị phạm tội đã gây nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời, tại các văn bản của Đảng cũng chỉ đạo tinh thần “lấy phòng ngừa là chính” như tại Kết luận số 13-KL/TW ngày 16/8/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, nên cần thể chế hóa qua điểm nêu trên trong quy định của BLHS. Do vậy, cần phải nghiên cứu mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội đối với một số tội danh khác cho phù hợp với thực tiễn.
– BLHS hiện hành chưa có quy định về tổ chức tội phạm, do đó, trong nhiều trường hợp chưa có cơ chế để phòng ngừa từ xa, từ sớm đối với loại tội phạm này. Theo đánh giá của APG tại Mục 39 Trang 131 MER4 và báo cáo đánh giá rà soát của Joint Group, việc tham gia vào một tổ chức tội phạm và gian lận không bị hình sự hóa riêng biệt ở Việt Nam, cũng không có tội phạm dựa trên âm mưu (Căn cứ trên khuyến nghị 03 và tiêu chí 3.2 trong phương pháp luận đánh giá mức độ tuân thủ kỹ thuật đối với các khuyến nghị của FATF). Bên cạnh đó, việc quy định về tổ chức tội phạm sẽ là cơ sở để quy định về tình tiết tăng nặng đối với người phạm tội “là thành viên của tổ chức tội phạm”, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm có tổ chức trong thời gian tới.
Đồng thời, thời gian qua, Đảng cũng đã có nhiều quan điểm chỉ đạo về nội dung này, cụ thể là: Kết luận số 13-KL/TW ngày 16/8/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, phù hợp với Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016- 2025 và định hướng đến năm 2030 của Chính phủ.
– Diện các đối tượng không phải chịu trách nhiệm hình sự do không tố giác tội phạm là chưa bao quát hết các mối quan hệ “thân thích” của một cá nhân, chưa bảo đảm tính nhân văn, nhân đạo, bảo đảm tính công bằng của pháp luật; bên cạnh đó, Theo quy định của khoản 3 Điều 19 này thì người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu không tố giác tội phạm do thân chủ của mình đang chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện đối với các tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia). Quy định như trên là không phù hợp vì: thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng để bào chữa cho thân chủ thì hành vi phạm tội đã diễn ra trước đó, người bào chữa thực hiện nhiệm vụ của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ liên quan đến hành vi thân chủ của họ đã thực hiện trước đó nên không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu họ không tố giác tội phạm liên quan đến hành vi này là hợp lý. Tuy nhiên, đối với những hành vi phạm tội mà thân chủ của người bào chữa chuẩn bị thực hiện hoặc đang thực hiện (phạm một tội mới hoặc tiếp diễn hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó) không thuộc phạm vi nhiệm vụ của người bào chữa nên nếu người bào chữa không tố giác đối với các hành vi này sẽ vi phạm nguyên tắc của pháp luật hình sự “mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời”, do vậy, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ về hành vi không tố giác các tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện hoặc đang thực hiện là không hợp lý.

– Theo quy định tại Điều 47, “vật, tiền” có thể được sử dụng làm công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm, đồng thời “vật, tiền” cũng có thể là “sản phẩm” có được do việc thực hiện tội phạm và đều là đối tượng bị tịch thu để sung vào ngân sách của nhà nước. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy chúng ta đang đứng trước kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì thuật ngữ “vật, tiền” đã không phản ánh đầy đủ những gì mới xuất hiện như đồng tiền điện tử, phần mềm máy tính, games điện tử, phần mềm trí tuệ nhân tạo… Đây đều không phải “vật, tiền” (vì không thuộc về thế giới vật chất mà con người có thể nhận biết qua thị giác, xúc giác) nhưng có thể quy đổi thành giá trị vật chất và trong nhiều trường hợp đều có thể sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm.
– Theo quy định hiện hành, chỉ người đang chấp hành án phạt tù bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì mới được trừ thời gian bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh vào thời gian chấp hành án. Còn đối với các đối tượng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, nếu không bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì thời gian bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh không được trừ vào thời gian chấp hành án. Quy định như trên là chưa bảo đảm tính công bằng trong tố tụng hình sự.
– Trường hợp người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn gây nhiều khó khăn cho việc điều tra tội phạm. Đối với trường hợp này, việc tăng nặng trách nhiệm hình sự là điều cần thiết nhưng BLHS hiện hành không quy định tình tiết này. Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, răn đe đối với tội phạm có tổ chức đang diễn ra rất phức tạp trên thực tiễn, cần thiết phải bổ sung quy định tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là thành viên của tổ chức tội phạm.
– Việc áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện còn khá hạn chế, đặc biệt là đối với các điều kiện như phạm tội lần đầu hoặc có nơi cư trú rõ ràng khiến cho việc áp dụng chính sách tha tù trước thời hạn có điều kiện trở nên bất hợp lý và thiếu tính linh hoạt trong thực tiễn.
Còn tiếp
Tổng hợp từ hồ sơ thẩm định sửa đổi Bộ luật Hình sự
Chuyên trang tư vấn pháp luật trực tuyến, tài liệu thi công chức, viên chức
