Vướng mắc cần phải sửa của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2025

Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc những khó khăn vướng mắc của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành. 

1. Khó khăn, vướng mắc xuất phát từ các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính

– Đối tượng xử phạt là tổ chức nước ngoài

Điểm c khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC) về đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính quy định: Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Điểm mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2025
Những hạn chế của luật xử lý vi phạm hành chính

Như vậy, Luật chỉ quy định xử phạt đối với “tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm trên lãnh thổ Việt Nam”, không đề cập đến việc xử phạt tổ chức nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam nhưng thực hiện hành vi vi phạm có ảnh hưởng trong nước. Ngoài ra, các nghị định hướng dẫn thi hành, không có định nghĩa hay nguyên tắc xử lý riêng cho pháp nhân nước ngoài không đăng ký, không hoạt động thực tế tại Việt Nam. Điều này dẫn đến khó khăn trong thực tiễn, đặc biệt đối với các lĩnh vực như thương mại điện tử, công nghệ, truyền thông xuyên biên giới, khi vi phạm phát sinh từ tổ chức nước ngoài không có địa chỉ, văn phòng đại diện hay chi nhánh tại Việt Nam.

– Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính:

Điểm a khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC quy định cụ thể về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, đồng thời xác định một số lĩnh vực có tính chất phức tạp thì áp dụng thời hiệu xử phạt là 02 năm. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành cho thấy quy định này còn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc. Trước hết, trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ, tình trạng cá nhân, tổ chức bị xử phạt nhưng không chấp hành quyết định xử phạt vẫn diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với các trường hợp xử phạt qua hệ thống giám sát tự động (“phạt nguội”). Mặc dù Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ đã quy định tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà chưa thực hiện xong yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết vụ việc vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ thì chưa được giải quyết việc đăng kiểm phương tiện vi phạm; song trên thực tế, chu kỳ kiểm định lần đầu đối với xe ô tô không kinh doanh vận tải là 03 năm, trong khi thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này chỉ là 01 năm. Sự không tương thích này đã tạo ra kẽ hở pháp lý để một số chủ phương tiện cố tình không chấp hành quyết định xử phạt, chờ đến khi hết thời hiệu xử phạt mới thực hiện nghĩa vụ.

Bên cạnh đó, trong một số lĩnh vực có tính chất phức tạp như bảo vệ môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm, khoáng sản…, việc phát hiện, xác minh và kết luận hành vi vi phạm thường đòi hỏi thời gian dài để thực hiện các hoạt động kiểm tra, lấy mẫu, phân tích, kiểm định, giám định chuyên môn. Đối với lĩnh vực khoáng sản, hành vi vi phạm thường được phát hiện muộn do địa bàn quản lý rộng, điều kiện kiểm tra, giám sát thường xuyên gặp nhiều hạn chế. Trong khi đó, thời hiệu xử phạt theo quy định hiện hành còn tương đối ngắn, chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt vi phạm hoặc không thể xử lý kịp thời, đầy đủ, ảnh hưởng đến hiệu quả phòng ngừa, răn đe.

Thời hiệu xử phạt VPHC lĩnh vực đất đai
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

– Điều 8 Luật XLVPHC quy định: Cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp trong Luật này có quy định cụ thể thời gian theo ngày làm việc.

Tuy nhiên, quy định này chưa làm rõ cách xác định “ngày làm việc” trong trường hợp Luật XLVPHC quy định cụ thể thời gian theo ngày làm việc, dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn. Trên thực tế, đã phát sinh khó khăn, vướng mắc trong việc xác định có hay không việc tính thứ bảy, chủ nhật, ngày nghỉ lễ, tết vào thời hạn xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt đối với các thủ tục có thời hạn ngắn như lập biên bản, ra quyết định xử phạt, tạm giữ tang vật, phương tiện hoặc chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

– Tình tiết tăng năng, giảm nhẹ còn chung chung

  Điều 9 và Điều 10 Luật XLVPHC, một số quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ còn mang tính định tính, chưa được hướng dẫn cụ thể để áp dụng, cụ thể như: yếu tố “đặc biệt nghiêm trọng”, “gây hậu quả lớn”, “quy mô lớn”, “vụ việc”, “tình tiết phức tạp”, “gây hậu quả nghiêm trọng”, “người già yếu, “cố tình trốn tránh, trì hoãn”… Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định mức độ, tính chất của hành vi vi phạm hành chính, khi áp dụng, người có thẩm quyền xử phạt có tâm lý “sợ sai” nên không áp dụng đồng thời dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất trong việc áp dụng quy định của pháp luật.

– Các trường hợp không xử phạt hành chính

  Điều 11 Luật XLVPHC quy định 05 trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính. Khoản 3 Điều 9 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định: “Tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo được loại trừ trách nhiệm hành chính, miễn trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định trong quá trình triển khai thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo và không có hành vi gian lận, cố ý vi phạm pháp luật, không sử dụng sai mục tiêu, phạm vi kinh phí”. Tuy nhiên, hiện nay, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ chưa được quy định là trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến khó khăn, vướng mắc khi áp dụng.

– Về mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính; mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước:

Mức phạt tiền tối đa được quy định tại Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính, sau hơn 13 năm thi hành, đã bộc lộ nhiều bất cập và không còn phù hợp với thực tiễn. Trong bối cảnh nền kinh tế – xã hội nước ta đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, mức chi tiêu cùng với quy mô kinh tế ngày càng mở rộng đã khiến mức tiền phạt tối đa trong các lĩnh vực hiện tại trở nên quá thấp, thiếu sức răn đe đối với các chủ thể vi phạm. Cụ thể, mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính và mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước được giữ nguyên từ năm 2012 đến nay; trong khi đó, mức lương cơ sở năm 2012 là 1.050.000 đồng/tháng, đến năm 2025 là 2.340.000 đồng/tháng (gấp 2,2 lần so với năm 2012); thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2012 khoảng 2.000.000 đồng/người/tháng, đến năm 2024 khoảng 7.700.000 đồng/người/tháng (gấp 3,85 lần so với năm 2012).

Quy định về thu, nộp tiền phạt vi phạm hành chính từ tháng 5/2023
Mức tiền phạt vi phạm hành chính còn thấp

Tại nhiều lĩnh vực như môi trường, an toàn thực phẩm, khoáng sản, an ninh mạng, an toàn thông tin mạng, phòng cháy, chữa cháy…, mức lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm thường cao gấp nhiều lần so với số tiền phạt tối đa mà cơ quan chức năng có thể áp dụng. Điều này dẫn đến việc chế tài tiền phạt không bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm.

– Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép

  Khoản 3 Điều 25 Luật XLVPHC quy định: “Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành. Người có thẩm quyền xử phạt giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề”.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 73 Luật XLVPHC quy định “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó”. Quy định nêu trên gây ra khó khăn, vướng mắc trong việc xác định thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép chứng chỉ hành nghề/đình chỉ hoạt động.

– Về nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (Điều 52 Luật XLVPHC):

Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cho thấy, việc xác định thẩm quyền xử phạt trong nhiều trường hợp còn gặp khó khăn do Luật chưa quy định rõ nguyên tắc để phân định thẩm quyền theo không gian lãnh thổ. Đối với các hành vi vi phạm có tính chất lưu động, diễn ra trên nhiều địa bàn, trên môi trường mạng hoặc được phát hiện thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, việc xác định chính xác nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính còn khó khăn. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý, làm phát sinh cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Một số vụ việc bị kéo dài do phải xin ý kiến, chuyển hồ sơ nhiều lần giữa các đơn vị có liên quan, ảnh hưởng đến thời hạn xử lý, làm giảm hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính.

– Về XPVPHC không lập biên bản:

+ Khoản 1 Điều 56 Luật XLVPHC quy định việc XPVPHC không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo. Trong trường hợp này người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ (khoản 3 Điều 56). Quy định này gây khó khăn đối với công tác xử lý vi phạm trong một số lĩnh vực quản lý chuyên ngành có đặc thù xử lý vi phạm trên cơ sở giám sát, hồ sơ, báo cáo, dữ liệu điện tử, không diễn ra trực tiếp tại hiện trường.

+ Ngoài ra, khoản 1 Điều 56 Luật XLVPHC quy định XPVPHC không lập biên bản được áp dụng đối với trường hợp phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân, 1.000.000 đồng đối với tổ chức. Qua thực tiễn thi hành cho thấy, mức tiền phạt này tương đối thấp so với mặt bằng chung của các khung xử phạt trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước hiện nay, dẫn đến phạm vi áp dụng xử phạt không lập biên bản rất hẹp. Nhiều hành vi vi phạm hành chính phổ biến lại có mức tiền phạt cao hơn, dù tính chất, mức độ vi phạm không nghiêm trọng và có thể xử lý theo thủ tục đơn giản. Việc giới hạn mức tiền phạt thấp đã làm cho số vụ việc đủ điều kiện áp dụng hình thức xử phạt không lập biên bản rất ít, không đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

+ Khoản 2 Điều 56 Luật XLVPHC quy định: “Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ, thì phải lập biên bản”. Thực tế hiện nay, nhiều hành vi vi phạm có tính chất đơn giản, mức xử phạt thấp được phát hiện qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ (như camera giám sát, thiết bị ghi hình, ghi âm…) đã có đầy đủ căn cứ, dữ liệu điện tử để ra quyết định xử phạt. Việc buộc phải lập biên bản trong tất cả các trường hợp này làm tăng thủ tục không cần thiết, kéo dài thời gian xử lý, phát sinh chi phí và chưa phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước.

– Việc quy định biên bản xử phạt vi phạm hành chính chỉ được lập 01 lần với 01 hành vi vi phạm trong một số trường hợp gặp khó khăn, cụ thể: vì các lý do khách quan khác nhau (lấy ý kiến các có quan chuyên môn khi còn quan điểm trái chiều, xác minh hành vi, giám định phân tích…) nên không đảm bảo theo quy định về thời hạn lập biên bản, dẫn đến không ban hành được Quyết định xử phạt.

– Về xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính

Điều 59 Luật XLVPHC chưa có quy định cụ thể về trường hợp tiến hành xác minh, các biện pháp xác minh, gây khó khăn trong triển khai thực hiện.

Hướng dẫn xác minh tình tiết vi phạm hành chính
Xác minh tình tiết vi phạm hành chính

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 59 Luật XLVPHC quy định: “Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định”. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 2 Luật Giám định tư pháp quy định “Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”. Thực tế hiện nay, nhiều trường hợp Công an cấp xã muốn tiến hành trưng cầu giám định các vụ việc VPHC, khi gửi Quyết định trưng cầu giám định thì không được chấp nhận bởi cơ quan tiến hành giám định.

– Về giải trình:

+ Theo quy định tại Điều 61 Luật XLVPHC thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng cho thấy quy định này còn thiếu tính khả thi. Trong nhiều trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt không phải là người trực tiếp phát hiện hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính; do đó, việc yêu cầu cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện quyền giải trình trực tiếp với người có thẩm quyền xử phạt gặp nhiều khó khăn về điều kiện tiếp cận, thời gian, địa điểm và thủ tục. Ngoài ra, việc chỉ cho phép giải trình với người có thẩm quyền xử phạt còn làm kéo dài thời gian xử lý, phát sinh thủ tục không cần thiết, nhất là trong các trường hợp hành vi vi phạm đơn giản, rõ ràng, có thể được xem xét, làm rõ ngay tại thời điểm lập biên bản.

Quy định về Giải trình vi phạm hành chính
Giải trình vi phạm hành chính

+ Khoản 1 Điều 61 Luật XLVPHC quy định về các trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình theo hướng quyền giải trình được bảo đảm đối với những hành vi VPHC mà pháp luật quy định hình thức xử phạt nghiêm khắc (tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động có thời hạn) hoặc quy định mức tối đa của khung tiền phạt từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức. Tuy nhiên, trên thực tế, một số hành vi VPHC không được quy định theo “mức tối đa của khung tiền phạt” mà được xác định theo tỷ lệ hoặc theo số lần khoản thu trái pháp luật.

– Thời hạn gửi Quyết định xử phạt quá ngắn

  Điều 70 Luật XLVPHC quy định: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt, cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành”. Tuy nhiên, trên thực tế, các đơn vị gặp khó khăn trong việc gửi quyết định xử phạt đến đối tượng vi phạm, nhất là trong lĩnh vực giao thông, do một bộ phận cá nhân vi phạm có nơi cư trú không ổn định hoặc không có mặt tại địa phương, một số trường hợp địa chỉ ghi trong giấy tờ khác với địa chỉ cư trú thực tế hoặc không có địa chỉ cụ thể.

– Về hoãn thi hành quyết định phạt tiền, giảm, miễn tiền phạt:

Điều 76, Điều 77 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định cá nhân, tổ chức để đáp ứng điều kiện được hoãn, miễn, giảm thi hành quyết định phạt tiền phải đáp ứng yêu cầu bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức và để đáp ứng điều kiện được nộp tiền phạt nhiều lần phải đáp ứng yêu cầu bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 150.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức. Qua thực tiễn áp dụng cho thấy, các quy định này chưa phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng tài chính thực tế của người vi phạm. Trong nhiều trường hợp, cá nhân, tổ chức đã lâm vào tình trạng mất hoặc suy giảm nghiêm trọng khả năng tài chính, song do mức tiền phạt chưa đạt ngưỡng luật định nên không đủ điều kiện để được hoãn, miễn, giảm thi hành quyết định phạt tiền và nộp tiền phạt nhiều lần. Mặt khác, khi đối tượng vi phạm không có khả năng thi hành quyết định phạt tiền, việc đặt ra các điều kiện ở mức cao dẫn đến người vi phạm tiếp tục bị buộc nộp phạt sẽ thiếu tính khả thi, làm phát sinh nợ đọng, cưỡng chế kéo dài nhưng hiệu quả thấp.

Mẫu đơn miễn giảm tiền phạt vi phạm hành chính
Mẫu đơn miễn giảm tiền phạt vi phạm hành chính

Đồng thời, việc quy định cá nhân, tổ chức gặp khó khăn về kinh tế nhưng kèm theo điều kiện “do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn” dẫn đến thiếu tính công bằng trong áp dụng pháp luật. Trên thực tế, khó khăn về kinh tế của cá nhân, tổ chức vi phạm có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau, không nhất thiết thuộc các trường hợp nêu trên, nhưng vẫn dẫn đến việc không có khả năng thi hành quyết định phạt tiền. Việc không cho phép xem xét các nguyên nhân khác một cách linh hoạt đã hạn chế khả năng áp dụng các biện pháp hoãn, miễn, giảm hoặc nộp tiền phạt nhiều lần, làm giảm hiệu quả thi hành pháp luật và chưa phù hợp với thực tiễn.

– Về thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

 Hiện nay, nhiều nội dung liên quan đến trách nhiệm trong thi hành quyết định xử phạt như quyết định việc hoãn, miễn, giảm nộp tiền phạt; áp dụng nộp tiền phạt nhiều lần; thu giữ, bảo quản, giao lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ; tạm giữ và ra quyết định thu hồi giấy phép, chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật; theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện; tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính hoặc cá nhân chết, mất tích hoặc tổ chức bị giải thể, phá sản mà không có tổ chức nào tiếp nhận chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo quy định; tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục ngay hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông còn thiếu chủ thể có thẩm quyền thực hiện. Cụ thể, Điều 76, Điều 79, Điều 80, Điều 85 Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện chỉ giao thẩm quyền quyết định và thực hiện các nội dung trên cho người có thẩm quyền xử phạt là chưa đầy đủ và bảo đảm tính khả thi. Trên thực tế, nhiều trường hợp người có thẩm quyền xử phạt không trực tiếp thực hiện các nội dung trên hoặc không còn tồn tại (giải thể, sáp nhập…) thì cần thiết phải có chủ thể khác thực hiện, tránh tình trạng khoảng trống pháp lý, không thực thi được trên thực tế.

– Về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

Hiện nay, nhiều cá nhân, tổ chức sau khi bị xử phạt không tự nguyện chấp hành, cố tình chây ỳ, kéo dài thời gian hoặc tìm cách né tránh nghĩa vụ thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong khi hệ thống biện pháp cưỡng chế hiện hành còn hạn chế, chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các tình huống phát sinh, đặc biệt đối với các đối tượng có điều kiện kinh tế, hoạt động sản xuất, kinh doanh phức tạp hoặc có yếu tố liên ngành, liên lĩnh vực.

Hướng dẫn ghi quyết định cưỡng chế theo mẫu Nghị định 118/2020/NĐ-CP
Cưỡng chế xử phạt vi phạm hành chính

Quy định tại Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) hiện hành quy định 05 biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, gồm: (1) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập; (2) khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm; (3) kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; (4) thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản; (5) buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Trong số 05 biện pháp nêu trên thì có 04 biện pháp đầu tiên là để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tiền và biện pháp cuối cùng là để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có biện pháp khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, trên thực tế còn một số hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời hạn… chưa được gắn với cơ chế cưỡng chế cụ thể khi người vi phạm không tự nguyện chấp hành. Việc thiếu vắng các biện pháp bảo đảm cưỡng chế thi hành trên thực tế dẫn đến tình trạng quyết định xử phạt chỉ dừng lại ở hình thức, khó triển khai hoặc triển khai không triệt để, nhất là đối với các cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ, né tránh nghĩa vụ chấp hành.

– Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

– Tại khoản 5c Điều 125 Luật XLVPHC quy định biên bản, quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử. Như vậy theo quy định này, việc ứng dụng công nghệ số trong xử phạt vi phạm hành chính còn hạn chế, mới chỉ mang tính nguyên tắc. Việc lập biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện thường được lập bằng phương pháp thủ công, trực tiếp nên trong quá trình thực hiện, người thi hành công vụ phải mang theo rất nhiều giấy tờ, tài liệu, như quyết định kiểm tra, biên bản kiểm tra, biên bản vi phạm hành chính, biên bản tạm giữ cùng nhiều loại giấy tờ khác. Thực tiễn đặt ra vấn đề cần phải đẩy mạnh, cụ thể hóa việc lập biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bằng phương thức điện tử trên môi trường điện tử.

+ Theo quy định tại khoản 8 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: “Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ: trường hợp vụ việc phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ”. Như vậy, trong trường hợp việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được thực hiện trước khi lập biên bản vi phạm hành chính thì khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì sẽ bị quá thời hạn tạm giữ.

Đồng thời, việc quy định về thời hạn tạm giữ như trên là quá ngắn, gây không ít khó khăn trong quá trình xử lý vụ việc, đặc biệt là việc tạm giữ, thực hiện giám định về hàng hóa, vì đối với các trường hợp để lấy mẫu kiểm nghiệm, giám định thì thời hạn thường trên 10 ngày mới có kết quả.

Thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
Tạm giữ tang vật vi phạm hành chính trước hay sau khi lập biên bản?

+ Tại khoản 1 Điều 126 Luật XLVPHC quy định trả lại phương tiện vi phạm cho chủ sở hữu trong trường hợp chứng minh được lỗi không do người có phương tiện gây ra nhưng không quy định cụ thể thời gian nên dẫn đến lúng túng trong áp dụng.

+ Tại Điểm b khoản 4 Điều 126 Luật XLVPHC quy định “Trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện… Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính”. Việc quy định ra quyết định tịch thu sau khi hết thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo lần thứ hai gây nhiều bất cập trong quá trình triển khai, cụ thể như: nhiều đơn vị không có nhà kho để bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu. Tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý có thể dẫn đến bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính, có thể bị mất; đồng thời, có thể dẫn tới tăng chi phí cho ngân sách nhà nước do phát sinh thêm chi phí để bảo quản, tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm.

2. Khó khăn, vướng mắc xuất phát từ quy định của các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật

– Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 118/NĐ-CP quy định: “Chứng từ thu, nộp tiền phạt, tiền chậm nộp phạt được in, phát hành, quản lý, sử dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc hoặc chứng từ điện tử nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật để xác nhận số tiền mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính đã nộp cho cơ quan thu tiền phạt. Chứng từ thu, nộp tiền phạt, tiền chậm nộp phạt vi phạm hành chính phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về lưu trữ.”. Tuy nhiên, Luật XLVPHC không quy định trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước trong việc thông tin về việc nộp tiền phạt của người bị xử phạt đến người đã ban hành quyết định xử phạt, không quy định trách nhiệm của người bị xử phạt khi đã thi hành việc nộp tiền phạt thì báo kết quả thi hành đến người đã ban hành quyết định xử phạt nên việc theo dõi kết quả thi hành quyết định xử phạt về hình thức phạt tiền gặp khó khăn.

Thẩm quyền hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Quy định mới về hủy bỏ, ban hành quyết định xử phạt hành chính từ 02/5/2025

– Về đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, hiện nay chưa có quy định đối với trường hợp các quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải hủy bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung dẫn đến có thay đổi về các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả thì chưa có quy định về việc thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục sai sót như: Việc hoàn trả hoặc thu thêm tiền phạt (có thay đổi về mức tiền phạt), không áp dụng hoặc thay đổi về hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả… dẫn đến việc lúng túng, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.

– Mẫu Biên bản tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (mẫu Biên bản số 20) không có trường thông tin thể hiện (họ và tên, địa chỉ…) của người chứng kiến trong nội dung biên bản nhưng cuối biên bản lại có mục của người chứng kiến ký tên.

– Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp:

+ Điều 13 quy định về các hành vi vi phạm về khai thác lâm sản trong rừng không được phép của cơ quan có thẩm quyền thì bị xử phạt tùy theo tính chất và mức độ vi phạm theo từng loại rừng cụ thể (rừng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng). Tuy nhiên, trong trường hợp hành vi vi phạm về khai thác rừng trái pháp luật xảy ra với nhiều loại rừng khác nhau, lâm sản sau khi khai thác không còn ở tại hiện trường khai thác mà được người vi phạm vận chuyển ra khỏi vị trí khai thác và được tập kết cùng với nhau và không có đủ cơ sở, căn cứ để xác định khối lượng lâm sản khai thác trái pháp luật ở từng loại rừng cụ thể, nên không có cơ sở để ban hành quyết định xử phạt theo Điều 13 Nghị định số 35/2019/NĐ-CP.

+ Khoản 14, Điều 20 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 07/2022/NĐ-CP) quy định về biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng đến khi thành rừng theo suất đầu tư được áp dụng ở địa phương tại thời điểm VPHC” nhưng chưa có quy định cụ thể đối với việc quản lý, sử dụng đối với diện tích rừng trồng do thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Việc không có quy định về quản lý, sử dụng đối với diện tích rừng trồng trên dẫn đến khó khăn trong quản lý, ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của các quyết định XPVPHC, thiếu tính răn đe, từ đó dẫn đến việc cố tình vi phạm.

+ Theo quy định tại điểm b khoản 20 Điều 22 (đã được sửa đổi tại điểm d khoản 13 Điều 1 Nghị định số 07/2022/NĐ-CP) thì hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật bị tịch thu phương tiện vi phạm trong trường hợp: “Sử dụng xe sản xuất, lắp ráp trái quy định…”. Tuy nhiên, chưa có quy định về xác định xe “sản xuất, lắp ráp trái quy định” do đó thực tế xử lý một số trường hợp vi phạm sử dụng máy nông nghiệp (xe tắc tơ) có đấu nối thêm thùng kéo để vận chuyển lâm sản trái pháp luật, người có thẩm quyền còn lúng túng.

rubi

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *