Tình huống pháp luật về cho vay nặng lãi, bán hàng trên mạng, quảng cáo bằng loa kẹo kéo

Trangtinphapluat.com tổng hợp, giới thiệu tới bạn đọc một số tình huống pháp luật về cho vay nặng lãi, bán hàng lừa đảo trên mạng xã hội, quảng cáo bằng loa kẹo kéo tại nơi công cộng, di chúc viết tay không có công chứng, chứng thực…

Tình huống 1: Anh Phạm Văn D (sinh năm 1990, cư trú tại TP. Hồ Chí Minh) cần gấp 50 triệu đồng để giải quyết việc cá nhân nhưng không đủ điều kiện vay ngân hàng. Thông qua giới thiệu, anh D vay tiền của bà Nguyễn Thị E (chủ một cơ sở cho vay tiền nhanh) với thỏa thuận: lãi suất: 5.000 đồng/1 triệu/ngày (tương đương khoảng 182,5%/năm); thời hạn vay: 30 ngày; hình thức: không hợp đồng, chỉ ghi giấy viết tay. Hỏi hành vi cho vay lãi nặng bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015, lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

Một số tình huống pháp lý thường gặp trong cuộc sống
Một số tình huống pháp luật thường gặp năm 2026

Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự tại thời điểm trả nợ.

Trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự: Điều 201, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” như sau:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng, hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm…”.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao định nghĩa về cho vay lãi nặng là trường hợp bên cho vay cho bên vay vay tiền với mức lãi suất gấp 5 lần trở lên mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Do đó, hành vi cho vay tiền với lãi suất gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất trong Bộ luật Dân sự, thu lợi từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tình huống 2: Chị A thấy một fanpage trên Facebook quảng cáo bán iPhone giá rẻ hơn thị trường khoảng 30%, kèm theo nhiều hình ảnh và đánh giá tích cực. Sau khi nhắn tin, người bán yêu cầu chị A chuyển khoản trước 100% giá trị đơn hàng (15 triệu đồng) để “giữ máy”. Tin tưởng, chị A đã chuyển tiền qua ngân hàng. Tuy nhiên sau khi chuyển tiền, người bán liên tục trì hoãn giao hàng. Sau 2 ngày thì chặn liên lạc và xóa tin nhắn, Fanpage cũng biến mất. Chị A không nhận được hàng và mất toàn bộ số tiền đã chuyển. Hỏi trong trường hợp này, pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015 về Hợp đồng mua bán tài sản quy định:

“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.”

Theo đó, việc giao kết hợp đồng thực hiện bằng hành vi giao kết qua mạng là giao dịch dân sự được pháp luật thừa nhận.

Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng
Tệ nạn mại dâm diễn biến phức tạp trên mạng xã hội

Như vậy, trong trường hợp chị A đã đặt hàng trên mạng, đã chuyển tiền vào tài khoản người bán và có xác nhận giao dịch đặt hàng thành công thì được xem là hợp đồng mua bán tài sản đã được xác lập.

Hợp đồng này có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo quy định tại Điều 436 Bộ luật Dân sự 2015 thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng như đã thỏa thuận.

Căn cứ Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự quy định:

Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.

Căn cứ quy định trên, trường hợp chị A đã thanh toán đủ số tiền hàng nhưng người bán không giao hàng có thể xác định là người bán đã vi phạm nghĩa vụ. Và theo đó, người mua có quyền yêu cầu người bán hoặc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ giao hàng hoặc hoàn trả tiền người mua đã chuyển và bồi thường thiệt hại (nếu có).

Các quy định tại Điều 186, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định, người mua có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận, huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi đóng trụ sở nếu bị đơn là tổ chức để yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ nếu các bên không tự thỏa thuận được hoặc bị đơn cố tình trốn tránh.

Trường hợp đơn khởi kiện hợp lệ, vụ việc sẽ được Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục luật đinh. Xong, con đường khởi kiện không phải hành trình đơn giản bởi tốn kém cả về thời gian và chi phí, do vậy, khi số tiền bị mất không lớn người ta thường sẽ ngậm ngùi cho qua chứ không tiến hành khởi kiện.

Nếu người vi phạm có dấu hiệu gian dối nhằm chiếm đoạt toàn bộ số tiền của bên mua (xóa trang web, không thể liên lạc được, ….) thì người mua có quyền gửi đơn tố giác tội phạm tới Cơ quan có thẩm quyền tại Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Bên bán có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 nếu bên bán đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc bên bán đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Tình huống 3: Anh D sử dụng loa kéo để mở nhạc lớn và quảng cáo bán hàng tại một công viên công cộng nhưng không xin phép cơ quan có thẩm quyền. Việc này gây ảnh hưởng đến những người xung quanh. Trong trường hợp này, hành vi của anh D có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, hành vi “dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phương tiện khác để cổ động ở nơi công cộng mà không được phép của các cơ quan có thẩm quyền” là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối chiếu với trường hợp của anh D, việc sử dụng loa kéo để quảng cáo bán hàng tại nơi công cộng mà không được phép là hành vi vi phạm quy định về bảo đảm sự yên tĩnh chung. Do đó, anh D có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP nêu trên. Ngoài ra, tang vật, phương tiện vi phạm (loa kéo) có thể bị tịch thu theo quy định tại khoản 4 Điều này.

Thực trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam
Phòng chống bạo lực giới

Tình huống 4: Ngày 15/12/2023, bố chị H đã lập 01 bản di chúc để lại toàn bộ tài sản của ông cho chị. Tuy nhiên bản di chúc này không được công chứng và chứng thực(viết tay). Đầu năm 2024, bố chị H mất, anh trai và chị gái của chị H tranh chấp tài sản, yêu cầu chia lại tài sản do bố chị H để lại vì họ cho rằng bản di chúc do bố chị H lập ngày 15/12/2023 không được công chứng và chứng thực nên không hợp pháp. Chị N hỏi di chúc của bố chị lập nêu trên, không được công chứng và chứng thực thì có hợp pháp hay không?

Trả lời:

 Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

  1. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
  2. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
  3. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
  4. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”

Căn cứ quy định nêu trên, di chúc của bố chị H được lập bằng văn bản (viết tay), không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện dưới đây:

– Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

– Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật (Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hình thức của di chúc như sau: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”).

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *