Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc những vướng mắc của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
2.1.1. Hệ thống VBQPPL còn nhiều tầng nấc, phân tán về thẩm quyền ban hành dẫn đến nguy cơ chồng chéo về nội dung
Hiện nay, hệ thống VBQPPL của Việt Nam vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc và phân tán về thẩm quyền ban hành. Theo Điều 4 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025, hệ thống VBQPPL gồm 13 tầng văn bản với 20 hình thức khác nhau, từ Hiến pháp, bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội đến nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã. Đồng thời, có tới 17 cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc liên tịch ban hành VBQPPL, trong đó một số chủ thể như Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ được ban hành nhiều loại văn bản khác nhau. Bên cạnh đó, Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 vẫn duy trì thẩm quyền ban hành VBQPPL đối với nhiều chủ thể như Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước; đồng thời các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và nhiều luật chuyên ngành tiếp tục ghi nhận thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành các loại thông tư, thông tư liên tịch, quy chế, quy chuẩn và các văn bản có tính áp dụng chung của các chủ thể này. Việc có quá nhiều tầng nấc văn bản và nhiều chủ thể cùng tham gia ban hành làm cho hệ thống pháp luật trở nên phân tán, thiếu tập trung, gia tăng số lượng văn bản dưới luật, dẫn đến tình trạng một vấn đề được điều chỉnh bởi nhiều nguồn văn bản khác nhau, gây chồng chéo về nội dung và khó xác định phạm vi điều chỉnh của từng loại văn bản. Ngoài ra, ranh giới giữa VBQPPL với văn bản hành chính, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ hoặc văn bản áp dụng nội bộ trong một số trường hợp còn chưa thực sự rõ ràng, làm phát sinh khó khăn trong việc lựa chọn hình thức văn bản phù hợp, ảnh hưởng đến tính thống nhất, minh bạch và khả năng tiếp cận của hệ thống pháp luật.

2.1.2. Quy định về phân định thẩm quyền lập pháp, lập quy; xác định nội dung quy định trong văn bản quy phạm pháp luật và giao quy định chi tiết còn chưa đầy đủ, rõ ràng
Thực tiễn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho thấy một số quy định về phân định thẩm quyền lập pháp, lập quy; xác định nội dung quy định trong văn bản quy phạm pháp luật và giao quy định chi tiết còn chưa đầy đủ, rõ ràng, ảnh hưởng đến tính ổn định, thống nhất, minh bạch và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật.
Luật hiện hành chưa xác lập đầy đủ các nguyên tắc, tiêu chí để phân định giữa luật quy định chi tiết, cụ thể với luật quy định khung, nguyên tắc; chưa làm rõ phạm vi các nội dung bắt buộc phải được quy định bằng luật và các nội dung có thể giao văn bản dưới luật quy định chi tiết. Đồng thời, tiêu chí xác định nội dung giao quy định chi tiết và cơ chế kiểm soát việc ban hành văn bản quy định chi tiết chưa được quy định đầy đủ, dẫn đến việc một số luật còn quy định quá chi tiết các vấn đề mang tính kỹ thuật, thủ tục hoặc thường xuyên biến động, trong khi một số nội dung khác được giao quy định chi tiết nhưng chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với nội dung của luật.
Bên cạnh đó, việc gia tăng áp dụng kỹ thuật một văn bản sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản và tình trạng một văn bản được sửa đổi, bổ sung nhiều lần bởi nhiều văn bản khác nhau làm cho hệ thống pháp luật ngày càng phân tán, phức tạp, gây khó khăn cho việc tra cứu, tiếp cận và áp dụng pháp luật. Một số quy định về mục đích ban hành, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp trong văn bản quy phạm pháp luật chưa được quy định hoặc thể hiện thống nhất, ảnh hưởng đến chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, thẩm tra, tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

2.1.3. Quy định về cơ chế phản ứng chính sách, điều chỉnh quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và quản lý, hệ thống hóa pháp luật còn chưa đầy đủ, đồng bộ
Thực tiễn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cho thấy một số quy định về xử lý các vấn đề phát sinh trong thực tiễn và bảo đảm tính linh hoạt, kịp thời trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật còn chưa đầy đủ, đồng bộ, ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và khả năng thích ứng của hệ thống pháp luật trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Luật hiện hành chưa có khuôn khổ pháp lý thống nhất về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), cơ chế chính sách đặc thù và cơ chế phản ứng chính sách nhanh đối với các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn; chưa quy định đầy đủ tiêu chí, điều kiện, phạm vi, đối tượng áp dụng, trách nhiệm theo dõi, đánh giá và tổng kết việc thực hiện các cơ chế này. Đồng thời, pháp luật hiện hành chưa thiết lập đầy đủ cơ chế để cơ quan có thẩm quyền kịp thời ban hành văn bản quy phạm pháp luật xử lý các vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn, dẫn đến khả năng phản ứng chính sách trong một số trường hợp còn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế – xã hội.
Bên cạnh đó, các quy định về điều chỉnh, chuyển đổi giữa các quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật khi phát sinh yêu cầu mới trong quá trình soạn thảo chưa đầy đủ; tiêu chí, điều kiện áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn hoặc trường hợp đặc biệt còn chưa được quy định rõ. Trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong một số khâu của quá trình xây dựng, thẩm định, rà soát, theo dõi thi hành và hoàn thiện pháp luật còn chưa được phân định đầy đủ, rõ ràng, ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Đồng thời, hoạt động hợp nhất văn bản và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật chưa được gắn kết chặt chẽ với quá trình xây dựng, cập nhật và hoàn thiện pháp luật. Việc hợp nhất, pháp điển chủ yếu được thực hiện sau khi văn bản được ban hành và có hiệu lực, dẫn đến độ trễ trong cập nhật, hệ thống hóa quy định pháp luật, nhất là đối với các văn bản được sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Pháp luật hiện hành cũng chưa quy định đầy đủ về trách nhiệm của các cơ quan, điều kiện bảo đảm thực hiện và cơ chế ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động hợp nhất, pháp điển, làm hạn chế khả năng phát hiện sớm các quy định mâu thuẫn, chồng chéo và cung cấp thông tin kịp thời phục vụ hoạt động xây dựng, rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật.
2.1.4. Quy định về quy trình và trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm gắn kết với xây dựng và hoàn thiện pháp luật còn chưa đầy đủ, rõ ràng
Thực tiễn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cho thấy quy định về quy trình và trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật còn chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa bảo đảm sự gắn kết giữa xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật và hoàn thiện pháp luật. Luật hiện hành chưa quy định đầy đủ, toàn diện quy trình tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật sau khi văn bản được ban hành, bao gồm các hoạt động triển khai thi hành, phổ biến, hướng dẫn áp dụng, theo dõi thi hành, rà soát, kiểm tra, sơ kết và tổng kết việc thi hành văn bản. Các giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành, mục tiêu, nội dung, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong từng giai đoạn chưa được xác định rõ ràng, thống nhất.

Việc xác định các điều kiện bảo đảm thi hành văn bản ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách và soạn thảo chưa được quy định đầy đủ, bao gồm nguồn lực tài chính, nhân lực, hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu, văn bản quy định chi tiết, hoạt động phổ biến, tập huấn, hướng dẫn áp dụng và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan. Trách nhiệm của các cơ quan trong tổ chức thi hành, theo dõi, đánh giá hiệu quả thực hiện, hướng dẫn áp dụng và phản hồi chính sách chưa được phân định rõ ràng; cơ chế giải thích, hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế đánh giá định kỳ, thường xuyên hiệu quả thi hành văn bản còn chưa hoàn thiện.
Ngoài ra, mối quan hệ liên thông giữa tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật với hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật chưa được thiết lập đầy đủ, chưa bảo đảm việc sử dụng thông tin, dữ liệu, kết quả theo dõi, rà soát, kiểm tra, sơ kết và tổng kết thi hành làm căn cứ cho việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật. Việc phát hiện, tiếp nhận, phân tích, xử lý và phản ánh kịp thời khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn thi hành pháp luật chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng, làm hạn chế hiệu quả phản hồi chính sách từ thực tiễn.
2.1.5. Quy định về cơ chế giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm thẩm quyền, quy trình và phân định giữa các hình thức áp dụng pháp luật còn chưa đầy đủ, rõ ràng
Thực tiễn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cho thấy quy định về cơ chế giải thích và hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật còn chưa đầy đủ, rõ ràng, ảnh hưởng đến việc bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn. Luật hiện hành đã quy định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được thực hiện theo trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên chưa quy định đầy đủ về thẩm quyền, nguyên tắc, căn cứ, hồ sơ, thời hạn và quy trình thực hiện đối với hoạt động giải thích pháp luật.
Pháp luật hiện hành chưa xác lập đầy đủ cơ chế hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật nhằm làm rõ cách hiểu và cách vận dụng quy định pháp luật trong thực tiễn; chưa phân định rõ giữa hoạt động giải thích pháp luật với hoạt động hướng dẫn áp dụng pháp luật, cũng như giữa hướng dẫn áp dụng pháp luật với hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ. Trong thực tiễn, một số nội dung hướng dẫn áp dụng pháp luật được thể hiện dưới hình thức văn bản hành chính nhưng có nội dung mang tính giải thích quy phạm, dẫn đến khó khăn trong xác định thẩm quyền ban hành, giá trị pháp lý và phạm vi áp dụng.
Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật với cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan tổ chức thi hành, cơ quan thẩm định và các chuyên gia, nhà khoa học trong quá trình giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật chưa được quy định đầy đủ. Việc công khai, cập nhật, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật chưa được thiết lập rõ ràng; chưa có cơ chế sử dụng kết quả giải thích, hướng dẫn làm căn cứ phát hiện bất cập và kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật.
2.1.6. Quy định về cơ chế đánh giá hiệu quả và phản ứng chính sách trong tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật còn chưa đầy đủ, đồng bộ
Thực tiễn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cho thấy các quy định về cơ chế đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành và cơ chế phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành còn chưa đầy đủ, đồng bộ, ảnh hưởng đến việc bảo đảm chất lượng, hiệu quả thi hành pháp luật và khả năng hoàn thiện pháp luật trên cơ sở thực tiễn. Luật hiện hành chưa xác lập đầy đủ cơ chế đánh giá văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành như một cấu phần của hoạt động tổ chức thi hành pháp luật; chưa quy định đầy đủ các nội dung mang tính nguyên tắc, ổn định của hoạt động này theo tinh thần gắn kết giữa xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm chuyển từ tư duy “pháp luật tốt trong văn bản” sang “pháp luật tốt trong thực tiễn”. Đồng thời, chưa có quy định rõ về mối liên kết giữa hoạt động xây dựng, rà soát và đánh giá văn bản quy phạm pháp luật; việc xác định trường hợp, tiêu chí và hình thức xử lý văn bản (sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ) còn chưa được quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quá trình áp dụng thống nhất.
Bên cạnh đó, Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 chưa thiết lập đầy đủ cơ chế phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật. Các quy định hiện hành chủ yếu tập trung vào thu thập thông tin, rà soát và đánh giá văn bản sau khi ban hành, nhưng chưa quy định rõ quy trình phát hiện sớm, phân loại, xử lý hoặc kiến nghị xử lý đối với các khó khăn, vướng mắc, bất cập, khoảng trống pháp lý và các tình huống mới phát sinh từ thực tiễn.
Việc kết nối giữa hoạt động theo dõi thi hành pháp luật với hoạt động sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật chưa bảo đảm tính hệ thống, dẫn đến nhiều vấn đề được phát hiện nhưng chưa được phản ánh, xử lý kịp thời hoặc chuyển hóa thành giải pháp hoàn thiện pháp luật. Điều này làm hạn chế khả năng phản ứng chính sách, tính thích ứng và hiệu quả của hệ thống pháp luật trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
2.1.7. Quy định về nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật và thứ tự ưu tiên trong trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề còn chưa đầy đủ, rõ ràng
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 chưa quy định đầy đủ, rõ ràng về nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, dẫn đến khó khăn trong xác định văn bản được ưu tiên áp dụng trong thực tiễn. Hiện Luật mới dừng ở nguyên tắc áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, nhưng chưa làm rõ thứ bậc hiệu lực giữa các loại văn bản trong hệ thống pháp luật. Do đó, việc xác định văn bản ưu tiên áp dụng trong một số trường hợp còn thiếu thống nhất.
Bên cạnh đó, nguyên tắc ưu tiên áp dụng văn bản ban hành sau chưa được quy định cụ thể. Khi có nhiều văn bản cùng điều chỉnh một vấn đề nhưng có quy định khác nhau, việc lựa chọn văn bản áp dụng còn lúng túng. Đối với văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, Luật chưa xác định rõ vị trí và nguyên tắc ưu tiên áp dụng trong quan hệ với các văn bản khác, dẫn đến cách hiểu và cách áp dụng chưa thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2.1.8. Chưa bảo đảm tính chuyên nghiệp và ứng dụng công nghệ số trong công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành VBQPPL
Nghị quyết số 66-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu “từng bước thực hiện soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tập trung, chuyên nghiệp”, đồng thời Chính phủ xác định nhiệm vụ xây dựng Đề án thực hiện soạn thảo VBQPPL tập trung, chuyên nghiệp là một trong những nhiệm vụ thuộc Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV nhưng Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 vẫn chưa quy định mô hình soạn thảo theo hướng tập trung, chuyên nghiệp để đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 66-NQ/TW và chỉ đạo của Chính phủ. Bên cạnh đó, Luật cũng chưa có quy định đầy đủ về việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong toàn bộ quy trình xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển nhanh, đặc biệt là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, nhiều hoạt động như rà soát, hệ thống hóa, kiểm tra tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo văn bản, phát hiện xung đột pháp luật, kiểm tra kỹ thuật lập pháp, tổng hợp và xử lý ý kiến góp ý hoàn toàn có thể được hỗ trợ hiệu quả bằng các công cụ công nghệ. Tuy nhiên, do thiếu các cơ chế, quy trình và yêu cầu cụ thể về ứng dụng công nghệ trong các hoạt động này nên việc triển khai còn thiếu đồng bộ, chưa khai thác hiệu quả các nền tảng số để nâng cao chất lượng, tiến độ và hiệu quả công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Điều này cho thấy khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa tạo được nền tảng đầy đủ cho việc chuyên nghiệp hóa và chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
2.1.9. Một số quy định, thuật ngữ sử dụng trong Luật chưa rõ ràng dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện hoặc có cách hiểu chưa thống nhất
– Luật chưa có quy định nhằm xác định các văn bản quy định chi tiết các loại Nghị quyết do Quốc hội ban hành tại điểm a khoản 2 Điều 10 và Nghị quyết do Chính phủ ban hành tại c khoản 2 Điều 14 của Luật có được phép quy định những nội dung trái với các văn bản QPPL của cơ quan cấp trên của cơ quan ban hành văn bản quy định chi tiết Nghị quyết hay không, ví dụ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chi tiết Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công có được “chứa” quy định khác với quy định Nghị định Chính phủ trong lĩnh vực luật sư hiện hành hay không?
– Khó xác định nội hàm của cụm từ “có nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27; quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 chưa rõ cơ quan có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan chủ trì soạn thảo hay cơ quan thẩm tra; quy định về thuật ngữ “hệ thống hóa” và “tổng rà soát” còn chưa rõ gây khó khăn cho công tác rà soát, sắp xếp, khai thác VBQPPL.
– Quy định tại điểm b khoản 1 Điều 21 của Luật “Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên” và điểm c khoản 1 Điều 21 Luật “Chính sách, biện pháp nhằm phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp khác có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương” trong nhiều trường hợp chưa có sự rõ ràng, cụ thể, dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất.

– Luật chưa có quy định làm rõ khái niệm “biện pháp chỉ đạo, điều hành” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 21 của Luật với “biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 21 của Luật. Bên cạnh đó, quy định về phối hợp chỉ giới hạn trong phạm vi các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chưa bao quát trường hợp phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã.
– Việc quy định hiệu lực trở của VBQPPL: xác định “trường hợp thật cần thiết” quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật trên thực tế khó thực hiện, còn dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 chưa quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp quy định chế độ, chính sách hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp được giao trong Nghị định của Chính phủ vì thực tế cho thấy số lượng rất lớn Nghị định của Chính phủ có hiệu lực từ ngày ký ban hành. Do đó, việc tham mưu xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố không thể có hiệu lực kịp với thời điểm Nghị định của Chính phủ có hiệu lực.
– Về quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL:
+ Về xây dựng chính sách: Việc xây dựng chính sách ở một số cơ quan chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đổi mới tư duy của Luật. Nội dung chính sách còn mang tính khái quát, chưa phân định rõ giữa mục tiêu và nội dung chính sách; phương án thực hiện chưa cụ thể, thiếu tính khả thi và chưa bảo đảm cơ sở lựa chọn chính sách. Công tác đánh giá tác động chính sách chưa được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể; việc thuyết minh quy phạm hóa chính sách còn thiếu rõ ràng, thuyết minh chưa đi vào trọng tâm.
+ Việc tổ chức lấy ý kiến, tham vấn chính sách, tiếp thu, giải trình được quan tâm nhưng việc tổ chức thực hiện còn chưa đồng bộ. Tình trạng gửi ý kiến góp ý không bảo đảm thời hạn vẫn còn xảy ra, làm ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng văn bản. Cơ chế tiếp thu, giải trình chưa được thực hiện thật sự đầy đủ, thống nhất, dẫn đến hoạt động tham vấn còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao; chất lượng góp ý của một số cơ quan, tổ chức còn hạn chế, chưa kịp thời hoặc còn sơ sài.
2.1.10. Khó khăn, vướng mắc trong quy định của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật
– Khó khăn, vướng mắc trong tổ chức soạn thảo: Khoản 1 Điều 18 của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định: “Trường hợp cần thiết, thành lập Tổ soạn thảo…”, tuy nhiên chưa có tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là “trường hợp cần thiết”, dẫn đến khó khăn trong áp dụng. Bên cạnh đó, một số dự thảo luật, nghị quyết vẫn còn tình trạng quy định hoặc quá cụ thể hoặc quá chung chung, chưa bảo đảm tính quy phạm, trong khi chất lượng kỹ thuật lập pháp, văn phong và thuật ngữ pháp lý còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng chung của hồ sơ dự án.
– Khó khăn, vướng mắc về hồ sơ, tài liệu trong xây dựng văn bản: (i) Điểm b khoản 2 Điều 39 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định hồ sơ dự thảo thông tư phải có bản so sánh, thuyết minh. Quy định này là phù hợp đối với trường hợp ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung, nhưng chưa hợp lý đối với trường hợp ban hành văn bản để bãi bỏ thông tư do không còn đối tượng điều chỉnh; (ii) Quy định tại điểm a khoản 4 Điều 59a và điểm b khoản 4 Điều 59b Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) chưa làm rõ thành phần hồ sơ đối với một số trường hợp xây dựng văn bản theo Luật, dẫn đến lúng túng trong triển khai; (iii) Mẫu Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật (Mẫu số 08) yêu cầu kèm nội dung rà soát trong khi tại thời điểm tổng kết chưa có dự thảo cụ thể, dẫn đến không phù hợp.
– Khó khăn, vướng mắc về thẩm định: (i) Điểm a khoản 2 Điều 40 quy định trường hợp tổ chức pháp chế chủ trì soạn thảo thì phải phân công đơn vị khác thẩm định. Quy định này chưa phù hợp do các đơn vị khác có thể không đủ chuyên môn, ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định và khó khăn trong thực hiện; (ii) Điểm b khoản 2 Điều 40 chưa phân biệt rõ giữa “hội đồng thẩm định” và “cuộc họp thẩm định”, cũng như chưa quy định tiêu chí áp dụng từng hình thức; (iii) Khoản 8 Điều 40 chưa quy định thời hạn thẩm định đối với thông tư theo trình tự, thủ tục rút gọn, trong khi luật có quy định chung, dẫn đến chưa thống nhất và chưa phù hợp thực tiễn; (iv) Chưa có quy định rõ về việc có phải thực hiện thẩm định lại trong trường hợp hồ sơ đã trình nhưng phải chỉnh lý, trao đổi kéo dài.
– Một số dự án luật, nghị quyết chưa bảo đảm thời hạn theo quy định, ảnh hưởng đến kế hoạch thẩm tra của cơ quan của Quốc hội và thời gian nghiên cứu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội. Nhiều trường hợp hồ sơ được trình sát kỳ họp, thời gian tiếp thu, chỉnh lý bị rút ngắn, gây áp lực lớn đối với cơ quan soạn thảo cũng như cơ quan thẩm tra. Việc phối hợp giữa cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan liên quan trong một số khâu, đặc biệt là giai đoạn hoàn thiện sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến còn chưa chặt chẽ; có trường hợp dự thảo được chỉnh sửa nhưng chưa được trao đổi đầy đủ với cơ quan thẩm tra, ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ hoàn thiện văn bản.
– Về việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đối với việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết: Hiện nay Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP đều chưa có quy định cụ thể về việc cơ quan trình báo cáo, xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau; về thời hạn gửi hồ sơ đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan thẩm tra để cho ý kiến đối với việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết; hồ sơ dự án trình tại phiên họp Quốc hội biểu quyết thông qua. Do đó, thời gian qua, các cơ quan trình còn lúng túng, chưa thực hiện thống nhất quy trình này.
-Về việc rà soát văn bản trước khi thông qua: Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 hiện nay chưa có quy định về thời hạn các Bộ, cơ quan ngang Bộ phải gửi văn bản đến Bộ Tư pháp để tiến hành việc rà soát trước khi thông qua, nên thực hiện còn chưa thống nhất.
– Việc xây dựng và ban hành văn bản quy định chi tiết để bảo đảm có hiệu lực đồng thời với luật còn gặp khó khăn do yêu cầu về tiến độ trong khi nguồn lực còn hạn chế. Việc tổ chức soạn thảo đồng thời nhiều văn bản làm gia tăng áp lực, chậm ban hành hoặc ảnh hưởng đến chất lượng văn bản. Đồng thời, một số quy định mới có hiệu lực ngay từ thời điểm ban hành, không có khoảng thời gian chuyển tiếp phù hợp, dẫn đến khó khăn trong việc bảo đảm tính đồng bộ giữa Trung ương và địa phương, có nguy cơ phát sinh khoảng trống pháp lý trong tổ chức thực hiện.
– Về lập danh mục văn bản quy định chi tiết tại địa phương: theo quy định tại khoản 1 Điều 42, địa phương có trách nhiệm lập danh mục văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều địa phương chưa nhận được thông báo đầy đủ về nội dung giao quy định chi tiết từ cơ quan trung ương, dẫn đến lúng túng trong việc xác định phạm vi, lập danh mục cũng như tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, thực tiễn phát sinh trường hợp một nghị quyết của Hội đồng nhân dân vừa có nội dung quy định chi tiết văn bản cấp trên, vừa đồng thời chứa các chính sách, biện pháp đặc thù của địa phương. Tuy nhiên, quy định hiện hành chưa làm rõ trong trường hợp này phải áp dụng trình tự, thủ tục nào (chỉ thực hiện đăng ký xây dựng nghị quyết hay đồng thời lập danh mục văn bản quy định chi tiết). Tại Điều 43 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, một số quy định còn thiếu thống nhất và chưa bao quát hết các tình huống thực tiễn. Cụ thể, việc dẫn chiếu thực hiện theo Quy chế làm việc của Hội đồng nhân dân có thể không thống nhất với các biểu mẫu hướng dẫn hiện hành, từ đó phát sinh xung đột trong áp dụng.
– Khó khăn, vướng mắc về kỹ thuật lập pháp: Các mẫu văn bản sửa đổi, bổ sung (đặc biệt mẫu số 23, 24 tại Phụ lục III) còn bất cập, chưa phù hợp với trường hợp nội dung sửa đổi đơn giản nhưng vẫn yêu cầu trình bày theo cấu trúc phức tạp, làm văn bản dài và thiếu linh hoạt. Đồng thời, quy định về cách đặt tên văn bản theo các mẫu này dẫn đến tên văn bản quá dài, gây khó khăn trong việc sử dụng và trích dẫn. Việc đánh giá chi phí tuân thủ thủ tục hành chính hiện còn áp dụng chung cho mọi trường hợp, chưa phân biệt với các sửa đổi mang tính kỹ thuật (như bổ sung hình thức nộp hồ sơ trực tuyến), dẫn đến phát sinh thủ tục không cần thiết. Ngoài ra, còn thiếu tiêu chí rõ ràng để phân biệt giữa “hướng dẫn áp dụng pháp luật” và “hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ”, gây lúng túng khi áp dụng. Quy định về sơ kết, tổng kết văn bản cũng chưa tạo điều kiện cho cơ quan chủ động thực hiện, ảnh hưởng đến tính kịp thời trong việc phục vụ xây dựng chính sách.
Chuyên trang tư vấn pháp luật trực tuyến, tài liệu thi công chức, viên chức
