Vướng mắc của Luật Xử lý vi phạm hành chính cần phải sửa đổi

 Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc những khó khăng, vướng mắc của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

1. Khó khăn, vướng mắc xuất phát từ các quy định của pháp luật

3.1.1. Khó khăn, vướng mắc xuất phát từ các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính

– Điểm c khoản 1 Điều 5 Luật XLVPHC về đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính quy định: Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Như vậy, Luật chỉ quy định xử phạt đối với “tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm trên lãnh thổ Việt Nam”, không đề cập đến việc xử phạt tổ chức nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam nhưng thực hiện hành vi vi phạm có ảnh hưởng trong nước. Ngoài ra, các nghị định hướng dẫn thi hành, không có định nghĩa hay nguyên tắc xử lý riêng cho pháp nhân nước ngoài không đăng ký, không hoạt động thực tế tại Việt Nam. Điều này dẫn đến khó khăn trong thực tiễn, đặc biệt đối với các lĩnh vực như thương mại điện tử, công nghệ, truyền thông xuyên biên giới, khi vi phạm phát sinh từ tổ chức nước ngoài không có địa chỉ, văn phòng đại diện hay chi nhánh tại Việt Nam.

– Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính:

Điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính như sau:

“a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây:

Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

Điểm mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2025
Vướng mắc của Luật Xử lý vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính về thuế, kiểm toán độc lập thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, pháp luật về kiểm toán độc lập;”.

Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành đang quy định cụ thể về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực. Tuy nhiên, trong thời gian qua, nhiều trường hợp vi phạm hành chính nhưng không chấp hành thông báo của cơ quan chức năng về việc giải quyết vi phạm, đặc biệt là trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ, nhiều lái xe ô tô vi phạm hành chính nhưng không chấp hành thông báo về việc giải quyết vi phạm; mặc dù Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ đã quy định tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà chưa thực hiện xong yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết vụ việc vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ thì chưa được giải quyết việc đăng kiểm phương tiện vi phạm, nhưng do chu kỳ kiểm định lần đầu của xe ô tô không kinh doanh vận tải là 03 năm, trong khi thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ là 01 năm nên nhiều chủ xe lợi dụng kẽ hở này để không chấp hành yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết vụ việc vi phạm hành chính mà chờ đến kỳ kiểm định tiếp theo, khi đã hết thời hiệu xử phạt, hạn chế hiệu quả của việc xử lý vi phạm qua hệ thống giám sát “phạt nguội” hiện nay. Bên cạnh đó, thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm cho thấy cần tăng thời hiệu xử phạt đối với vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm lên 03 năm để đảm bảo thời gian phù hợp cho việc xử lý các vụ việc phức tạp cần thời gian xác minh, phân tích kiểm định, giám định để có thể ban hành quyết định đúng, không bỏ lọt vi phạm, đặc thù một số ngành như khoáng sản, khi hành vi vi phạm thường được phát hiện muộn do địa bàn rộng, khó kiểm tra thường xuyên.

Gưi quyet dinh xu phat ve co quan
Có được gửi quyết định xử phạt về cơ quan

Bên cạnh đó, để bảo đảm nguyên tắc mọi vi phạm hành chính phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật; hạn chế tình trạng không xử phạt vi phạm hành chính được đối với các vi phạm hành chính đã kết thúc do đã hết thời hiệu xử phạt tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm thì cần thiết phải nâng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

– Điều 8 Luật XLVPHC quy định: Cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp trong Luật này có quy định cụ thể thời gian theo ngày làm việc.

Tuy nhiên, quy định này chưa làm rõ cách xác định “ngày làm việc” trong trường hợp Luật XLVPHC quy định cụ thể thời gian theo ngày làm việc, dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn. Trên thực tế, đã phát sinh khó khăn, vướng mắc trong việc xác định có hay không việc tính thứ bảy, chủ nhật, ngày nghỉ lễ, tết vào thời hạn xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt đối với các thủ tục có thời hạn ngắn như lập biên bản, ra quyết định xử phạt, tạm giữ tang vật, phương tiện hoặc chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

– Điều 9 và Điều 10 Luật XLVPHC, một số quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ còn mang tính định tính, chưa được hướng dẫn cụ thể để áp dụng, cụ thể như: yếu tố “đặc biệt nghiêm trọng”, “gây hậu quả lớn”, “quy mô lớn”, “vụ việc”, “tình tiết phức tạp”, “gây hậu quả nghiêm trọng”, “người già yếu, “cố tình trốn tránh, trì hoãn”… Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định mức độ, tính chất của hành vi vi phạm hành chính, khi áp dụng, người có thẩm quyền xử phạt có tâm lý “sợ sai” nên không áp dụng đồng thời dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất trong việc áp dụng quy định của pháp luật.

– Điều 11 Luật XLVPHC quy định 05 trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính. Khoản 3 Điều 9 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định: “Tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo được loại trừ trách nhiệm hành chính, miễn trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định trong quá trình triển khai thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo và không có hành vi gian lận, cố ý vi phạm pháp luật, không sử dụng sai mục tiêu, phạm vi kinh phí”. Tuy nhiên, hiện nay, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ chưa được quy định là trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến khó khăn, vướng mắc khi áp dụng.

– Về mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính; mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước:

Mức phạt tiền tối đa được quy định tại Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính, sau hơn 13 năm thi hành, đã bộc lộ nhiều bất cập và không còn phù hợp với thực tiễn. Trong bối cảnh nền kinh tế – xã hội nước ta đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, mức chi tiêu cùng với quy mô kinh tế ngày càng mở rộng đã khiến mức tiền phạt tối đa trong các lĩnh vực hiện tại trở nên quá thấp, thiếu sức răn đe đối với các chủ thể vi phạm. Cụ thể, mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính và mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước được giữ nguyên từ năm 2012 đến nay; trong khi đó, mức lương cơ sở năm 2012 là 1.050.000 đồng/tháng, đến năm 2025 là 2.340.000 đồng/tháng (gấp 2,2 lần so với năm 2012); thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2012 khoảng 2.000.000 đồng/người/tháng, đến năm 2024 khoảng 7.700.000 đồng/người/tháng (gấp 3,85 lần so với năm 2012). Tại nhiều lĩnh vực như môi trường, an toàn thực phẩm, khoáng sản, an ninh mạng, an toàn thông tin mạng, phòng cháy, chữa cháy…, mức lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm thường cao gấp nhiều lần so với số tiền phạt tối đa mà cơ quan chức năng có thể áp dụng. Điều này dẫn đến việc chế tài tiền phạt không bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm.

– Khoản 3 Điều 25 Luật XLVPHC quy định: “Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành. Người có thẩm quyền xử phạt giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề”. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 73 Luật XLVPHC quy định “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó”. Quy định nêu trên gây ra khó khăn, vướng mắc trong việc xác định thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép chứng chỉ hành nghề/đình chỉ hoạt động.

Thời hiệu xử phạt VPHC lĩnh vực đất đai
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

– Về nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (Điều 52 Luật XLVPHC): Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cho thấy, việc xác định thẩm quyền xử phạt trong nhiều trường hợp còn gặp khó khăn do Luật chưa quy định rõ nguyên tắc để phân định thẩm quyền theo không gian lãnh thổ. Đối với các hành vi vi phạm có tính chất lưu động, diễn ra trên nhiều địa bàn, trên môi trường mạng hoặc được phát hiện thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, việc xác định chính xác nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính còn khó khăn. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý, làm phát sinh cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Một số vụ việc bị kéo dài do phải xin ý kiến, chuyển hồ sơ nhiều lần giữa các đơn vị có liên quan, ảnh hưởng đến thời hạn xử lý, làm giảm hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính.

– Về XPVPHC không lập biên bản:

+ Khoản 1 Điều 56 Luật XLVPHC quy định việc XPVPHC không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo. Trong trường hợp này người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ (khoản 3 Điều 56). Quy định này gây khó khăn đối với công tác xử lý vi phạm trong một số lĩnh vực quản lý chuyên ngành có đặc thù xử lý vi phạm trên cơ sở giám sát, hồ sơ, báo cáo, dữ liệu điện tử, không diễn ra trực tiếp tại hiện trường.

+ Ngoài ra, khoản 1 Điều 56 Luật XLVPHC quy định XPVPHC không lập biên bản được áp dụng đối với trường hợp phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân, 1.000.000 đồng đối với tổ chức. Qua thực tiễn thi hành cho thấy, mức tiền phạt này tương đối thấp so với mặt bằng chung của các khung xử phạt trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước hiện nay, dẫn đến phạm vi áp dụng xử phạt không lập biên bản rất hẹp. Nhiều hành vi vi phạm hành chính phổ biến lại có mức tiền phạt cao hơn, dù tính chất, mức độ vi phạm không nghiêm trọng và có thể xử lý theo thủ tục đơn giản. Việc giới hạn mức tiền phạt thấp đã làm cho số vụ việc đủ điều kiện áp dụng hình thức xử phạt không lập biên bản rất ít, không đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

+ Khoản 2 Điều 56 Luật XLVPHC quy định: “Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ, thì phải lập biên bản”. Thực tế hiện nay, nhiều hành vi vi phạm có tính chất đơn giản, mức xử phạt thấp được phát hiện qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ (như camera giám sát, thiết bị ghi hình, ghi âm…) đã có đầy đủ căn cứ, dữ liệu điện tử để ra quyết định xử phạt. Việc buộc phải lập biên bản trong tất cả các trường hợp này làm tăng thủ tục không cần thiết, kéo dài thời gian xử lý, phát sinh chi phí và chưa phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước.

– Việc quy định biên bản xử phạt vi phạm hành chính chỉ được lập 01 lần với 01 hành vi vi phạm trong một số trường hợp gặp khó khăn, cụ thể: vì các lý do khách quan khác nhau (lấy ý kiến các có quan chuyên môn khi còn quan điểm trái chiều, xác minh hành vi, giám định phân tích…) nên không đảm bảo theo quy định về thời hạn lập biên bản, dẫn đến không ban hành được Quyết định xử phạt.

– Về xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính, Điều 59 Luật XLVPHC chưa có quy định cụ thể về trường hợp tiến hành xác minh, các biện pháp xác minh, gây khó khăn trong triển khai thực hiện.

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 59 Luật XLVPHC quy định: “Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định”. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 2 Luật Giám định tư pháp quy định “Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”. Thực tế hiện nay, nhiều trường hợp Công an cấp xã muốn tiến hành trưng cầu giám định các vụ việc VPHC, khi gửi Quyết định trưng cầu giám định thì không được chấp nhận bởi cơ quan tiến hành giám định.

Hướng dẫn xác minh tình tiết vi phạm hành chính
Xác minh tình tiết vi phạm hành chính

– Về xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính: Việc định giá tang vật VPHC theo khoản 3 Điều 60 Luật XLVPHC và khoản 1 Điều 6 Thông tư số 173/2013/TT-BTC: khi có vụ việc phải xác định giá trị tang vật VPHC cần thành lập Hội đồng định giá, trong đó Sở Tài chính là thành viên Hội đồng. Đối với các cơ quan Trung ương theo ngành dọc đóng trên địa bàn các xã xa trung tâm, vụ việc tang vật giá trị không lớn, quy định nêu trên dẫn đến chi phí phát sinh tương đối lớn. Ngoài ra, chưa có quy định về việc xác định giá đối với tang vật, phương tiện có chứng thư thẩm định giá.

– Về giải trình:

+ Theo quy định tại Điều 61 Luật XLVPHC thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng cho thấy quy định này còn thiếu tính khả thi. Trong nhiều trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt không phải là người trực tiếp phát hiện hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính; do đó, việc yêu cầu cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện quyền giải trình trực tiếp với người có thẩm quyền xử phạt gặp nhiều khó khăn về điều kiện tiếp cận, thời gian, địa điểm và thủ tục. Ngoài ra, việc chỉ cho phép giải trình với người có thẩm quyền xử phạt còn làm kéo dài thời gian xử lý, phát sinh thủ tục không cần thiết, nhất là trong các trường hợp hành vi vi phạm đơn giản, rõ ràng, có thể được xem xét, làm rõ ngay tại thời điểm lập biên bản.

+ Khoản 1 Điều 61 Luật XLVPHC quy định về các trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình theo hướng quyền giải trình được bảo đảm đối với những hành vi VPHC mà pháp luật quy định hình thức xử phạt nghiêm khắc (tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động có thời hạn) hoặc quy định mức tối đa của khung tiền phạt từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức. Tuy nhiên, trên thực tế, một số hành vi VPHC không được quy định theo “mức tối đa của khung tiền phạt” mà được xác định theo tỷ lệ hoặc theo số lần khoản thu trái pháp luật.

Hướng dẫn lập biên bản vi phạm hành chính theo Nghị định 118
Hướng dẫn ghi biên bản vi phạm hành chính theo Nghị định 68/2025/NĐ-CP

– Về chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính, khoản 1 Điều 63 Luật XLVPHC quy định: “Đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó ban hành một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phải xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền”.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều trường hợp hồ sơ vụ việc được chuyển từ cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sang cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng không kèm theo một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật XLVPHC. Nguyên nhân có thể xuất phát từ việc vụ việc được sàng lọc ngay từ giai đoạn tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm; vụ việc được chuyển giao trong quá trình phối hợp giữa các cơ quan khi chưa tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự chính thức; hoặc trường hợp hành vi được xác định ngay từ đầu là chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trong các trường hợp nêu trên, do pháp luật chưa quy định rõ thủ tục xử lý, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan liên quan, nên việc xử phạt vi phạm hành chính gặp nhiều lúng túng, áp dụng không thống nhất giữa các địa phương.

– Điều 64 Luật XLVPHC quy định các lĩnh vực được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính. Thực tiễn thi hành cho thấy quy định này chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực quản lý nhà nước có tính chất đặc thù, phức tạp và đòi hỏi cao về tính kịp thời, chính xác trong phát hiện hành vi vi phạm như phòng, chống tác hại thuốc lá, năng lượng nguyên tử, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa,…

– Trong nhiều trường hợp khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mặc dù pháp luật chuyên ngành quy định hình thức xử phạt bổ sung hoặc biện pháp khắc phục hậu quả là bắt buộc đối với một số hành vi vi phạm, nhưng trên thực tế lại không có hoặc không còn điều kiện để áp dụng các biện pháp này. Cụ thể như, hành vi vi phạm mà pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn nhưng người vi phạm không có giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó; hành vi vi phạm mà pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nhưng vụ việc vi phạm không có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để tịch thu; hành vi vi phạm mà pháp luật quy định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nhưng hậu quả không xảy ra hoặc đã được khắc phục toàn bộ trước khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Luật XLVPHC chưa có quy định loại trừ rõ ràng đối với các trường hợp này khiến người có thẩm quyền xử phạt gặp khó khăn trong việc áp dụng.

– Điều 70 Luật XLVPHC quy định: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt, cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành”. Tuy nhiên, trên thực tế, các đơn vị gặp khó khăn trong việc gửi quyết định xử phạt đến đối tượng vi phạm, nhất là trong lĩnh vực giao thông, do một bộ phận cá nhân vi phạm có nơi cư trú không ổn định hoặc không có mặt tại địa phương, một số trường hợp địa chỉ ghi trong giấy tờ khác với địa chỉ cư trú thực tế hoặc không có địa chỉ cụ thể.

– Về hoãn thi hành quyết định phạt tiền, giảm, miễn tiền phạt:

Điều 76, Điều 77 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định cá nhân, tổ chức để đáp ứng điều kiện được hoãn, miễn, giảm thi hành quyết định phạt tiền phải đáp ứng yêu cầu bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức và để đáp ứng điều kiện được nộp tiền phạt nhiều lần phải đáp ứng yêu cầu bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 150.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức. Qua thực tiễn áp dụng cho thấy, các quy định này chưa phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng tài chính thực tế của người vi phạm. Trong nhiều trường hợp, cá nhân, tổ chức đã lâm vào tình trạng mất hoặc suy giảm nghiêm trọng khả năng tài chính, song do mức tiền phạt chưa đạt ngưỡng luật định nên không đủ điều kiện để được hoãn, miễn, giảm thi hành quyết định phạt tiền và nộp tiền phạt nhiều lần. Mặt khác, khi đối tượng vi phạm không có khả năng thi hành quyết định phạt tiền, việc đặt ra các điều kiện ở mức cao dẫn đến người vi phạm tiếp tục bị buộc nộp phạt sẽ thiếu tính khả thi, làm phát sinh nợ đọng, cưỡng chế kéo dài nhưng hiệu quả thấp.

Mẫu đơn miễn giảm tiền phạt vi phạm hành chính
Mẫu đơn miễn giảm tiền phạt vi phạm hành chính

Đồng thời, việc quy định cá nhân, tổ chức gặp khó khăn về kinh tế nhưng kèm theo điều kiện “do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn” dẫn đến thiếu tính công bằng trong áp dụng pháp luật. Trên thực tế, khó khăn về kinh tế của cá nhân, tổ chức vi phạm có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau, không nhất thiết thuộc các trường hợp nêu trên, nhưng vẫn dẫn đến việc không có khả năng thi hành quyết định phạt tiền. Việc không cho phép xem xét các nguyên nhân khác một cách linh hoạt đã hạn chế khả năng áp dụng các biện pháp hoãn, miễn, giảm hoặc nộp tiền phạt nhiều lần, làm giảm hiệu quả thi hành pháp luật và chưa phù hợp với thực tiễn.

– Về thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

Hiện nay, nhiều nội dung liên quan đến trách nhiệm trong thi hành quyết định xử phạt như quyết định việc hoãn, miễn, giảm nộp tiền phạt; áp dụng nộp tiền phạt nhiều lần; thu giữ, bảo quản, giao lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ; tạm giữ và ra quyết định thu hồi giấy phép, chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật; theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện; tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính hoặc cá nhân chết, mất tích hoặc tổ chức bị giải thể, phá sản mà không có tổ chức nào tiếp nhận chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo quy định; tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục ngay hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông còn thiếu chủ thể có thẩm quyền thực hiện. Cụ thể, Điều 76, Điều 79, Điều 80, Điều 85 Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện chỉ giao thẩm quyền quyết định và thực hiện các nội dung trên cho người có thẩm quyền xử phạt là chưa đầy đủ và bảo đảm tính khả thi. Trên thực tế, nhiều trường hợp người có thẩm quyền xử phạt không trực tiếp thực hiện các nội dung trên hoặc không còn tồn tại (giải thể, sáp nhập…) thì cần thiết phải có chủ thể khác thực hiện, tránh tình trạng khoảng trống pháp lý, không thực thi được trên thực tế.

– Các quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện còn thiếu nội dung về các trường hợp được hoãn, giảm, miễn đối với việc thi hành hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả nên nhiều quyết định xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả không thi hành được do người vi phạm gặp khó khăn.

– Theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật XLVPHC thì người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản tịch thu tang vật, phương tiện VPHC. Tuy nhiên, quy định này rất khó thực hiện trong thực tiễn, đặc biệt là trường hợp người có thẩm quyền xử phạt là Chủ tịch UBND các cấp hoặc Cục trưởng Cục ở Trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc.

– Việc áp dụng hình thức tịch thu tang vật là khoáng sản có được do doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm gặp nhiều vướng mắc trong thực tiễn khi khoáng sản vốn có khối lượng lớn, kích thước cồng kềnh, một số loại khoáng sản có đặc điểm biến chất, suy giảm theo thời gian đặt ra yêu cầu phải có quy định hướng dẫn cụ thể về cách thức vận chuyển, tập kết, trông coi bảo quản, định giá, xử lý tang vật vi phạm tạo thuận lợi, tránh lúng túng cho các cơ quan chức năng.

– Về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

Hiện nay, nhiều cá nhân, tổ chức sau khi bị xử phạt không tự nguyện chấp hành, cố tình chây ỳ, kéo dài thời gian hoặc tìm cách né tránh nghĩa vụ thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong khi hệ thống biện pháp cưỡng chế hiện hành còn hạn chế, chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các tình huống phát sinh, đặc biệt đối với các đối tượng có điều kiện kinh tế, hoạt động sản xuất, kinh doanh phức tạp hoặc có yếu tố liên ngành, liên lĩnh vực.

Quy định tại Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) hiện hành quy định 05 biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, gồm: (1) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập; (2) khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm; (3) kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; (4) thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản; (5) buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Trong số 05 biện pháp nêu trên thì có 04 biện pháp đầu tiên là để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tiền và biện pháp cuối cùng là để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có biện pháp khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, trên thực tế còn một số hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời hạn… chưa được gắn với cơ chế cưỡng chế cụ thể khi người vi phạm không tự nguyện chấp hành. Việc thiếu vắng các biện pháp bảo đảm cưỡng chế thi hành trên thực tế dẫn đến tình trạng quyết định xử phạt chỉ dừng lại ở hình thức, khó triển khai hoặc triển khai không triệt để, nhất là đối với các cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ, né tránh nghĩa vụ chấp hành.

– Về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính:

+ Điểm a khoản 1 Điều 122 Luật XLVPHC quy định: “Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác”. Phạm vi điều chỉnh của quy định này còn hẹp, chưa bao quát đầy đủ các hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trên thực tế, các hành vi đánh nhau, gây tổn hại sức khỏe cho người khác thường diễn biến nhanh, tiềm ẩn nguy cơ leo thang thành bạo lực nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người dân và trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, do pháp luật chưa quy định rõ đây là các hành vi cần phải ngăn chặn, đình chỉ ngay, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của lực lượng chức năng gặp lúng túng, thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng.

+ Khoản 3 Điều 122 Luật XLVPHC quy định: “Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không quá 12 giờ; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm;…”. Bên cạnh mục đích đình chỉ, ngăn chặn ngay hành vi vi phạm, ngăn chặn hậu quả tác hại do hành vi vi phạm gây ra, lực lượng thi hành công vụ còn tiến hành xác minh làm rõ nội dung vụ việc, nhân thân đối tượng một cách chính xác, kịp thời, khách quan toàn diện, từ đó có biện pháp xử lý đúng người, đúng hành vi, tránh bỏ lọt vi phạm, không làm oan, làm sai. Tuy nhiên, thời hạn tạm giữ như quy định hiện hành là tương đối ngắn, thực tế cho thấy có nhiều trường hợp vi phạm cần xác minh, làm rõ lai lịch nhân thân, giá trị hàng hóa, thu thập số liệu chứng cứ và hồ sơ liên quan đến đối tượng vi phạm thì thời hạn tạm giữ như trên là không đủ để cơ quan chức năng tiến hành các thủ tục cần thiết, gây khó khăn cho các lực lượng trong việc quản lý đối tượng vi phạm.

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 122 Luật XLVPHC mới chỉ quy định đối với trường hợp tạm giữ để xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 05 ngày, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm. Tuy nhiên thực tiễn đặt ra vấn đề đối với trường hợp tạm giữ để thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thì cần thiết phải kéo dài thời hạn tạm giữ.

+ Điểm c khoản 4 Điều 125 Luật XLVPHC quy định: “Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, người lập biên bản phải báo cáo người có thẩm quyền tạm giữ về tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề đã tạm giữ để xem xét ra quyết định tạm giữ; quyết định tạm giữ phải được giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 01 bản”, theo quy định này việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải trải qua nhiều bước từ việc lập biên bản tạm giữ, tiếp đó người lập biên bản tạm giữ báo cáo người có thẩm quyền tạm giữ, sau đó người có thẩm quyền tạm giữ ra quyết định tạm giữ, cuối cùng là gửi quyết định tạm giữ cho người, đại diện tổ chức vi phạm. Quy trình này trên thực tế còn rườm rà, kéo dài thời gian xử lý, làm giảm tính kịp thời của biện pháp ngăn chặn, tăng áp lực cho lực lượng thi hành công vụ.

– Quy định niêm phong tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ theo khoản 5b Điều 125 Luật XLVPHC thiếu tính thực tế, gây khó khăn cho cơ quan thực thi pháp luật, đặc biệt đối với các tang vật cồng kềnh, khó niêm phong, khó bảo quản (như xuồng, thuyền hút cát cỡ lớn được neo đậu trên sông…); thêm thủ tục, kéo dài, phức tạp quy trình xử lý đối với vụ việc VPHC.

– Tại khoản 5c Điều 125 Luật XLVPHC quy định biên bản, quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử. Như vậy theo quy định này, việc ứng dụng công nghệ số trong xử phạt vi phạm hành chính còn hạn chế, mới chỉ mang tính nguyên tắc. Việc lập biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện thường được lập bằng phương pháp thủ công, trực tiếp nên trong quá trình thực hiện, người thi hành công vụ phải mang theo rất nhiều giấy tờ, tài liệu, như quyết định kiểm tra, biên bản kiểm tra, biên bản vi phạm hành chính, biên bản tạm giữ cùng nhiều loại giấy tờ khác. Thực tiễn đặt ra vấn đề cần phải đẩy mạnh, cụ thể hóa việc lập biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bằng phương thức điện tử trên môi trường điện tử.

+ Theo quy định tại khoản 8 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: “Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ: trường hợp vụ việc phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ”. Như vậy, trong trường hợp việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được thực hiện trước khi lập biên bản vi phạm hành chính thì khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì sẽ bị quá thời hạn tạm giữ.

Đồng thời, việc quy định về thời hạn tạm giữ như trên là quá ngắn, gây không ít khó khăn trong quá trình xử lý vụ việc, đặc biệt là việc tạm giữ, thực hiện giám định về hàng hóa, vì đối với các trường hợp để lấy mẫu kiểm nghiệm, giám định thì thời hạn thường trên 10 ngày mới có kết quả.

Cách tính thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
Tạm giữ tang vật vi phạm hành chính trước hay sau khi lập biên bản?

+ Tại khoản 1 Điều 126 Luật XLVPHC quy định trả lại phương tiện vi phạm cho chủ sở hữu trong trường hợp chứng minh được lỗi không do người có phương tiện gây ra nhưng không quy định cụ thể thời gian nên dẫn đến lúng túng trong áp dụng.

+ Tại Điểm b khoản 4 Điều 126 Luật XLVPHC quy định “Trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện… Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính”. Việc quy định ra quyết định tịch thu sau khi hết thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo lần thứ hai gây nhiều bất cập trong quá trình triển khai, cụ thể như: nhiều đơn vị không có nhà kho để bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu. Tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý có thể dẫn đến bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính, có thể bị mất; đồng thời, có thể dẫn tới tăng chi phí cho ngân sách nhà nước do phát sinh thêm chi phí để bảo quản, tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm.

– Về quản lý tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính:

Số tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính nộp vào ngân sách nhà nước hàng năm là rất lớn; trong khi đó, số kinh phí của ngân sách đầu tư trở lại cho hoạt động này còn hạn chế. Kinh phí phục vụ cho công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính nói chung, công tác xử phạt vi phạm hành chính nói riêng còn hạn chế; trong khi đó, các nhiệm vụ liên quan đến việc tăng cường, hiện đại hóa cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị cho công tác xử lý vi phạm hành chính; hỗ trợ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn cho người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính; kinh phí bảo đảm cho lực lượng làm công tác quản lý, xử lý VPHC,… đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn; tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cho phép trích lại nguồn thu từ xử phạt vi phạm hành chính.

– Luật XLVPHC quy định những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhưng không có quy định về trường hợp không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả; trong khi thực tế hiện nay cũng có nhiều trường hợp vì lý do khách quan mà không thể hoặc không cần thiết phải áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

– Luật XLVPHC chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành hình thức xử phạt bổ sung, cưỡng chế thi hành hình thức xử phạt bổ sung nên thiếu cơ sở pháp lý để thực hiện, gây khó khăn cho việc thi hành quyết định xử phạt.

– Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ số trong xử phạt vi phạm hành chính còn hạn chế. Việc phát hiện vi phạm hành chính và thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu được thực hiện bằng các phương pháp thủ công, trực tiếp trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính. Quá trình thực hiện người thi hành công vụ phải mang theo rất nhiều giấy tờ, tài liệu, như quyết định kiểm tra, biên bản kiểm tra, biên bản vi phạm hành chính, biên bản tạm giữ cùng nhiều loại giấy tờ khác.

3.1.2. Khó khăn, vướng mắc xuất phát từ quy định của các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật

– Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 118/NĐ-CP quy định: “Chứng từ thu, nộp tiền phạt, tiền chậm nộp phạt được in, phát hành, quản lý, sử dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc hoặc chứng từ điện tử nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật để xác nhận số tiền mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính đã nộp cho cơ quan thu tiền phạt. Chứng từ thu, nộp tiền phạt, tiền chậm nộp phạt vi phạm hành chính phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về lưu trữ.”. Tuy nhiên, Luật XLVPHC không quy định trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước trong việc thông tin về việc nộp tiền phạt của người bị xử phạt đến người đã ban hành quyết định xử phạt, không quy định trách nhiệm của người bị xử phạt khi đã thi hành việc nộp tiền phạt thì báo kết quả thi hành đến người đã ban hành quyết định xử phạt nên việc theo dõi kết quả thi hành quyết định xử phạt về hình thức phạt tiền gặp khó khăn.

– Về đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, hiện nay chưa có quy định đối với trường hợp các quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải hủy bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung dẫn đến có thay đổi về các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả thì chưa có quy định về việc thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục sai sót như: Việc hoàn trả hoặc thu thêm tiền phạt (có thay đổi về mức tiền phạt), không áp dụng hoặc thay đổi về hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả… dẫn đến việc lúng túng, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.

– Mẫu Biên bản tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (mẫu Biên bản số 20) không có trường thông tin thể hiện (họ và tên, địa chỉ…) của người chứng kiến trong nội dung biên bản nhưng cuối biên bản lại có mục của người chứng kiến ký tên.

– Tại Nghị định số 189/2025/NĐ-CP chưa quy định thẩm quyền xử phạt của một số chức danh: Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ, Bộ Nội vụ;…[1]

– Điểm b khoản 1 Điều 37a Luật XLVPHC quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của “Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý theo ngành, lĩnh vực”. Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP chưa quy định đầy đủ các chức danh tương ứng với chủ thể có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật. Đồng thời, các quy định khác của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP cũng chưa có nội dung dẫn chiếu hoặc giao cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định hoặc quyết định cụ thể các chức danh này. Việc chưa quy định đầy đủ và rõ ràng nêu trên gây khó khăn, lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện về xác định chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực chuyên ngành cụ thể.

– Quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của các chức danh được quy định tại các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại không còn phù hợp với quy định tại Chương II của Nghị định 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Chưa có quy định về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực công tác dân tộc, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nên chưa áp dụng được các biện pháp XLVPHC trong lĩnh vực này[2].

– Việc xây dựng văn bản QPPL quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều bộ, ngành và phải bảo đảm sự thống nhất giữa các văn bản QPPL về XLVPHC và giữa pháp luật về XLVPHC với pháp luật khác có liên quan. Do phạm vi điều chỉnh tương đối lớn nên các nghị định XPVPHC trong các lĩnh vực thường liên quan đến nhiều văn bản QPPL có nội dung quản lý nhà nước khác nhau, trong trường hợp các văn bản làm căn cứ ban hành được sửa đổi, bổ sung, thay thế thì các nghị định về XPVPHC cũng sẽ phải sửa đổi, bổ sung tương ứng cho phù hợp, khiến cho việc xây dựng, cập nhật hành vi vi phạm chưa thực sự được hiệu quả. Hơn nữa các văn bản này lại thay đổi không đồng thời, việc sửa đổi, bổ sung văn bản nội dung quản lý nhà nước được thực hiện ở các thời điểm khác nhau dẫn đến việc một nghị định XPVPHC quy định trong nhiều lĩnh vực có thể bị sửa đổi, bổ sung nhiều lần, gây khó khăn trong việc soạn thảo và áp dụng pháp luật.

– Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp:

+ Điều 13 quy định về các hành vi vi phạm về khai thác lâm sản trong rừng không được phép của cơ quan có thẩm quyền thì bị xử phạt tùy theo tính chất và mức độ vi phạm theo từng loại rừng cụ thể (rừng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng). Tuy nhiên, trong trường hợp hành vi vi phạm về khai thác rừng trái pháp luật xảy ra với nhiều loại rừng khác nhau, lâm sản sau khi khai thác không còn ở tại hiện trường khai thác mà được người vi phạm vận chuyển ra khỏi vị trí khai thác và được tập kết cùng với nhau và không có đủ cơ sở, căn cứ để xác định khối lượng lâm sản khai thác trái pháp luật ở từng loại rừng cụ thể, nên không có cơ sở để ban hành quyết định xử phạt theo Điều 13 Nghị định số 35/2019/NĐ-CP.

+ Khoản 14, Điều 20 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 07/2022/NĐ-CP) quy định về biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng đến khi thành rừng theo suất đầu tư được áp dụng ở địa phương tại thời điểm VPHC” nhưng chưa có quy định cụ thể đối với việc quản lý, sử dụng đối với diện tích rừng trồng do thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Việc không có quy định về quản lý, sử dụng đối với diện tích rừng trồng trên dẫn đến khó khăn trong quản lý, ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của các quyết định XPVPHC, thiếu tính răn đe, từ đó dẫn đến việc cố tình vi phạm.

+ Theo quy định tại điểm b khoản 20 Điều 22 (đã được sửa đổi tại điểm d khoản 13 Điều 1 Nghị định số 07/2022/NĐ-CP) thì hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật bị tịch thu phương tiện vi phạm trong trường hợp: “Sử dụng xe sản xuất, lắp ráp trái quy định…”. Tuy nhiên, chưa có quy định về xác định xe “sản xuất, lắp ráp trái quy định” do đó thực tế xử lý một số trường hợp vi phạm sử dụng máy nông nghiệp (xe tắc tơ) có đấu nối thêm thùng kéo để vận chuyển lâm sản trái pháp luật, người có thẩm quyền còn lúng túng.

[1] Công văn số 6652/BNV-PC ngày 19/8/2025 của Bộ Nội vụ

[2] Báo cáo số 1693/BC-BDTTG ngày 20/8/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *