Xử phạt hành vi chuyển nhượng đất khi chưa có bìa đỏ sao cho đúng?

Hiện nay có rất nhiều trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay do bên bán (bên chuyển nhượng) chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể lập các hợp đồng công chứng, chứng thực theo quy định được, dẫn đến khi thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định trước khi tiến hành thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vậy pháp luật quy định như thế nào đối với việc xử phạt vi phạm hành chính khi các bên chuyển nhượng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Phạt người bán hay phạt người mua? thời điểm để áp dụng xử phạt là khi nào? và trường hợp nào thì không bị xử phạt?…

Trong bài viết này, trangtinphapluat.com sẽ nêu các quy định pháp luật có liên quan và các luồng quan điểm khác nhau về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chuyển quyền sử dụng đất khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai để bạn đọc tham khảo, vận dụng vào trong công việc cũng như thực hiện các thủ tục liên quan đến đất đai.

1. Điều kiện chuyển quyền sử dụng đất

+ Điều 30 Luật Đất đai 1993 quy định các trường hợp không được chuyển quyền sử dụng đất như sau:

“Điều 30

Không được chuyển quyền sử dụng đất trong những trường hợp sau đây:

1- Đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp;

2- Đất giao cho các tổ chức mà pháp luật quy định không được chuyển quyền sử dụng;

3- Đất đang có tranh chấp.”

chuyển nhượng quyền sử dụng đất chung của vợ chồng
Quy định về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất

+ Điều 106 Luật Đất đai 2003 quy định 4 điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:

Điều 106. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 110; khoản 2 và khoản 3 Điều 112; các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 113; khoản 2 Điều 115; điểm b khoản 1, các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 119; điểm b khoản 1, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 120 của Luật này khi có các điều kiện sau đây:

a) Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.”

+ Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định  4 điều kiện để thực hiện quyền chuyển nhượng đất đai, cụ thể như sau:

Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”

+ Luật Đất đai 2024 quy định 5 điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:

Điều 45. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:

Cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận thành viên hộ gia đình sử dụng đất
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;

d) Trong thời hạn sử dụng đất;

đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, Luật Đất đai từ năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2024 đều quy định điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

2. Quy định về xử phạt hành vi chuyển nhượng không đảm bảo quy định

+ Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 04-CP năm 1997 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, quy định: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tự tiện chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang có tranh chấp hoặc chưa có giấy tờ hợp lệ.

Ngoài mức xử phạt  trên, còn bị áp dụng biện pháp huỷ bỏ hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng trái phép.

 Khoản 1 Điều 5 quy định: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.

 Ngoài các hình thức xử phạt, còn bị áp dụng biện pháp buộc phải làm đúng thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

+ Tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 182/2004/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định:  Phạt tiền từ năm triệu (5.000.000) đồng đến mười triệu (10.000.000) đồng đối với hành vi tự chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho đối với đất không đủ điều kiện chuyển quyền sử dụng đất quy định tại Điều 106 của Luật Đất đai.

Nghị định số 91/2019/NĐ-CP Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Xử phạt hành vi lấn chiếm đất

Ngoài việc bị phạt tiền còn buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.

+ Tại Điều 13 Nghị định 105/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Điều 13. Tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất không đủ điều kiện

1. Phạt tiền từ năm trăm nghìn (500.000) đồng đến hai triệu (2.000.000) đồng tại khu vực nông thôn, phạt tiền từ hai triệu (2.000.000) đồng đến mười triệu (10.000.000) đồng tại khu vực đô thị đối với hành vi tự chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 106 của Luật Đất đai.

2. Phạt tiền từ hai triệu (2.000.000) đồng đến mười triệu (10.000.000) đồng tại khu vực nông thôn, phạt tiền từ năm triệu (5.000.000) đồng đến hai mươi triệu (20.000.000) đồng tại khu vực đô thị đối với hành vi tự chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất phi nông nghiệp mà không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 106 của Luật Đất đai.

3. Phạt tiền từ hai triệu (2.000.000) đồng đến mười triệu (10.000.000) đồng tại khu vực nông thôn, phạt tiền từ năm triệu (5.000.000) đồng đến ba mươi triệu (30.000.000) đồng tại khu vực đô thị đối với hành vi sử dụng đất lấn, chiếm đất nông nghiệp mà đem chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

4. Phạt tiền từ năm triệu (5.000.000) đồng đến ba mươi triệu (30.000.000) đồng tại khu vực nông thôn, phạt tiền từ mười triệu (10.000.000) đồng đến năm mươi triệu (50.000.000) đồng tại khu vực đô thị đối với hành vi sử dụng đất lấn, chiếm đất phi nông nghiệp mà đem chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

5. Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này còn bị tịch thu lợi ích có được do vi phạm và buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm.”

Như vậy, đến năm 2009 thì Nghị định 105 mới bổ sung quy định ngoài bị phạt tiền còn buộc tịch thu lợi ích có được do vi phạm.

+ Tại Điều 13 Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, quy định:

Điều 13. Tự ý chuyển quyền sử dụng đất khi không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi tự ý chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất đang có tranh chấp, đất đang bị kê biên để bảo đảm thi hành án, đất đã hết thời hạn sử dụng nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này.”

+Tại khoản 1 Điều 18 Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai quy định:

Điều 18. Chuyển quyền, cho thuê, thế chấp bằng quyền sử dụng đất khi không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 188 của Luật đất đai

1. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân khác thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa các hộ gia đình, cá nhân mà không đủ một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 188 và Điều 190 của Luật đất đai;

b) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với trường hợp không đủ từ hai điều kiện trở lên quy định tại khoản 1 Điều 188 và Điều 190 của Luật đất đai.”

Ngoài bị phạt tiền, còn bịBuộc bên nhận chuyển quyền sử dụng đất, phải trả lại đất cho người sử dụng đất trước khi nhận chuyển quyền, trừ trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận.

+ Tại khoản 3 Điều 17 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính lĩnh vực đất đai quy định: 

“3. Hành vi chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất không đủ một trong các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi thừa kế hoặc tặng cho quyền sử dụng đất;

b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cho thuê hoặc cho thuê lại hoặc thế chấp bằng quyền sử dụng đất;

c) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi chuyển nhượng hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.”

Ngoài bị phạt tiền, còn bịBuộc bên nhận chuyển quyền sử dụng đất, phải trả lại đất cho người sử dụng đất trước khi nhận chuyển quyền, trừ trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận.

Tóm lại, pháp luật từ năm 1997 đến nay đã quy định hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không đủ điều kiện (chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt hành chính bằng tiền, buộc khắc phục hậu quả là trả lại đất nếu không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp đủ điều kiện cấp giấy thì sau khi xử phạt hành chính sẽ thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận cho người nhận chuyển nhượng.

3. Xử phạt hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất sao cho đúng?

Một vấn đề khó khăn hiện nay là đối với các trường hợp chuyển nhượng trước ngày 01/7/2014 không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 Luật Đất đai; Sử dụng đất do nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 8 năm 2024 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 Luật Đất đai   thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật Đất đai và quy định tại Nghị định này (Nghị định 151/2025/NĐ-CP) mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Đối với 2 trường hợp trên thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính không còn, có những trường hợp chuyển nhượng diễn ra từ những năm 2000. Vậy, khi giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền có xử phạt bên chuyển nhượng đất về hành vi chuyển nhượng đất không đủ điều kiện theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định 123/2024/NĐ-CP hay không?

Vẫn xử lý vi phạm hành chính

Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng, hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước 01/7/2014 (không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 Luật Đất đai) mà đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền vẫn phải lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi chuyển nhượng không đủ điều kiện theo điểm c khoản 3 Điều 17 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, bởi lẽ:

+ Theo khoản 4 Điều 3 Nghị định 123/2024/NĐ-CP thì: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà chưa có văn bản xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành thì không xử lý theo quy định tại Nghị định này.”, như vậy, đối với các hành vi phạm xảy ra sau ngày 15/10/1993 thì sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP.

Điểm mới của Nghị định 123/2024/NĐ-CP về xử phạt hành chính lĩnh vực đất đai
Vướng mắc của Nghị định 123/2024/NĐ-CP về xử phạt hành chính lĩnh vực đất đai

Do thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết (qua 2 năm) nên không ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà áp dụng biện pháp buộc khắc phục hậu quả là:  Buộc nộp số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; Buộc đăng ký đất đai đối với trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định.

Về số lợi bất hợp pháp được tính theo khoản 2 Điều 35 Nghị định 123/2024/NĐ-CP cụ thể: “Việc xác định nộp số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm đã xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thời gian xác định số lợi bất hợp pháp phải nộp được tính từ khi Nghị định có quy định hành vi vi phạm phải nộp số lợi bất hợp pháp có hiệu lực thi hành hoặc tính từ ngày xảy ra vi phạm nếu vi phạm xảy ra sau ngày Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về đất đai đầu tiên có quy định phải nộp số lợi bất hợp pháp đã có hiệu lực. Việc tính số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm được thực hiện theo Nghị định này”.

Không xử phạt hành chính

Tuy nhiên cũng nhiều quan điểm cho rằng các hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra trước 01/7/2014 mà các bên đã thực hiện xong giao dịch (giao tiền, giao đất) thì không còn thời hiệu để xử lý vi phạm hành chính và tại khoản 1 Điều 35 của Nghị định 123/2024/NĐ-CP đã quy định về chuyển tiếp đối với các hành vi xảy ra trước ngày Nghị định 123/2024/NĐ-CP có hiệu lực như sau:

Cách tính số lợi bất hợp pháp theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP
Xác định số lợi bất hợp pháp trong lĩnh vực đất đai

Điều 35. Điều khoản chuyển tiếp

1. Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì áp dụng quy định về xử phạt vi phạm hành chính như sau:

a) Trường hợp đã lập biên bản và đã có quyết định xử phạt nhưng chưa thực hiện xong quyết định xử phạt thì tiếp tục thực hiện theo quyết định đã ban hành;

b) Trường hợp hành vi vi phạm hành chính đã lập biên bản vi phạm hành chính mà chưa ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì xử lý như sau:

Trường hợp hết thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì không ban hành quyết định xử phạt nhưng phải ban hành quyết định áp dụng hình thức tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng và biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có). Việc áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả thực hiện theo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn thì áp dụng theo Nghị định này.

Trường hợp còn thời hạn ban hành quyết định xử phạt thì mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng theo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn thì áp dụng theo Nghị định này.”

Căn cứ vào quy định chuyển tiếp thì đối với các hành vi chuyển quyền sử dụng đất diễn ra trước ngày 01/7/2014 mà đến nay mới phát hiện, nếu hành vi đó đã bị lập biên bản vi phạm hành chính trước đó thì khi xác lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người có thẩm quyền sẽ tiếp tục ban hành quyết định buộc khắc phục hậu quả, nộp số lợi bất hợp pháp, buộc đăng ký đất đai trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 Trường hợp, hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra trước ngày Nghị định 123/2024/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (cụ thể hành vi diễn ra trước 01/7/2014) mà chưa bị lập biên bản vi phạm hành chính, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và hành vi đã kết thúc thì Nghị định 123/2024/NĐ-CP không quy định hồi tố xử phạt. Do đó, trường hợp này không xử lý hành vi chuyển quyền sử dụng đất.

Việc xử phạt hay không xử phạt hành chính hành vi chuyển quyền sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định của Luật Đất đai ảnh hưởng rất lớn đến quyền của người sử dụng đất. Nếu xác định là vi phạm và xử phạt thì số lợi bất hợp pháp tương đối nhiều, nếu xác định không thuộc trường hợp xử phạt do Nghị định 123 không quy định hiệu lực trở về trước đối với hành vi vi phạm đã diễn ra trước ngày Nghị định 123 có hiệu lực thi hành nhưng đã thực hiện xong và không có biên bản, quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Trangtinphapluat.com rất mong muốn nhận được quan điểm trao đổi của bạn đọc về việc có áp dụng Nghị định 123/2024/NĐ-CP để xử phạt hành chính hay không xử phạt hành chính đối với hành vi chuyển quyền sử dụng đất không đủ điều kiện trước ngày 01/7/2014 mà các bên đã thực hiện xong hợp đồng.

Ý kiến bạn đọc vui lòng ghi ở mục bình luận bên dưới bài viết.

Rubi

 

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *