Sau 06 năm được sửa đổi, một số quy định của Luật Viên chức năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2019 hành bộc lộ hạn chế nhất định; một số nội dung cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong tình hình mới
1. Về bổ nhiệm viên chức quản lý
Các quy định của Luật về bổ nhiệm đối với viên chức quản lý hiện nay còn tồn tại một số vướng mắc về tiêu chuẩn, điều kiện trong bổ nhiệm. Luật Viên chức quy định tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm chung, áp dụng chung cho tất cả các lĩnh vực sự nghiệp; trong khi đó, các tiêu chuẩn bổ nhiệm đối với viên chức quản lý tại một số lĩnh vực sự nghiệp khác cũng được quy định tại các luật chuyên ngành và quy định cụ thể của từng bộ, ngành, địa phương theo phân cấp, từ đó gây ra những khó khăn nhất định trong công tác sắp xếp, bố trí cán bộ. Bên cạnh đó, việc áp dụng quy định mới về tiêu chuẩn trình độ quản lý theo quy định tại Nghị định số 89/2021/NĐ-CP tại một số bộ, cơ quan, địa phương chưa có sự thống nhất, đặc biệt là khi xem xét bổ nhiệm viên chức quản lý trong các cơ sở giáo dục, y tế. Ngoài ra, còn tồn tại tình trạng quy định chưa thống nhất giữa các bộ, địa phương về tiêu chuẩn trình độ lý luận chính trị của viên chức quản lý.

2. Chưa đồng bộ với quy định của Đảng, Nhà nước
Quy định của Luật Viên chức còn một số nội dung chưa đồng bộ với quy định của Đảng, như:
+ Quy định số 41-QĐ/TW ngày 03/11/2021 của Bộ Chính trị quy định về từ chức đối với cán bộ. Luật Viên chức không quy định về từ chức đối với viên chức quản lý mà là quy định xin thôi giữ chức vụ.
+ Quy định số 65-QĐ/TW ngày 28/4/2022 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ.quy định về luân chuyển đối với cán bộ. Luật Viên chức chưa quy định nội dung này.
+ Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức. Luật Viên chức quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là 02 năm đối với hành vi vi phạm bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách; 05 năm đối với hành vi vi phạm không thuộc hình thức khiển trách.
Quy định số 69-QĐ/TW có quy định về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trong xử lý kỷ luật, tuy nhiên chưa có quy định tương ứng của Luật Viên chức về nội dung này.
+ Quy định số 80-QĐ/TW ngày 18/8/2022 của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.quy định: Cán bộ bị kỷ luật thì không phân công, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vào chức vụ cao hơn chức vụ khi bị kỷ luật trong khoảng thời gian 12 tháng đối với hình thức kỷ luật khiển trách, 30 tháng đối với hình thức kỷ luật cảnh cáo và 60 tháng đối với hình thức kỷ luật cách chức (tính từ ngày ký quyết định kỷ luật) (khoản 7 Điều 18). Luật Viên chức quy định: Viên chức bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng; bị kỷ luật bằng hình thức cách chức thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực (khoản 2 Điều 56).

+ Luật Viên chức chưa có quy định về việc điều động đối với viên chức. Trong khi đó, Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 quy định thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc điều động ngườiđứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp mình, quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã (Điều 17) và thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã điều động người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp mình (Điều 23). Tại Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 cũng có quy định điều động đối với giáo viên.
4. Một số nội dung quản lý viên chức hiện không phù hợp với thực tiễn
+ Điều 29 đã quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 11 thì quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc chưa được xác định là quyền của viên chức về hoạt động nghề nghiệp; từ đó dẫn đến thiếu biện pháp bảo đảm các quyền của viên chức được thực hiện, đồng thời chưa bảo đảm sự thống nhất trong quy định của Luật.
+ Điều 25 Luật Viên chức quy định viên chức được tuyển dụng phải ký hợp đồng làm việc với đơn vị sự nghiệp công lập, thời điểm chấm dứt hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 60 tháng; hợp đồng làm việc xác định thời hạn đối với người được tuyển dụng làm viên chức kể từ ngày 01/7/2020. Tuy nhiên, trường hợp viên chức được bổ nhiệm vào vị trí quản lý thì thời hạn hợp đồng làm việc của viên chức quản lý có thể không phù hợp với thời hạn bổ nhiệm.

+ Chưa có quy định giải quyết thôi việc đối với trường hợp viên chức làm các công việc thuộc danh mục công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đã đủ điều kiện có thể nghỉ hưu và hưởng lương hưu ở tuổi thấp hơn theo quy định.
Rubi
Chuyên trang tư vấn pháp luật trực tuyến, tài liệu thi công chức, viên chức
