7 vướng mắc về xử phạt hành chính lĩnh vực đất đai

Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc những khó khăn, vướng mắc qua hơn 1 năm triển khai thi hành Nghị định 123/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

1. Việc xác định thời điểm vi phạm, chấm dứt vi phạm

  Việc xác định thời điểm vi phạm, thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm còn gặp khó khăn, đặc biệt đối với các hành vi vi phạm liên quan đến giao dịch dân sự về đất đai hoặc hành vi cung cấp thông tin sai lệch, ảnh hưởng đến việc áp dụng hình thức xử phạt và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

2. Xác định tình trạng đất và hậu quả vi phạm

 Việc xác định diện tích vi phạm, tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (nhất là đối với các vi phạm xảy ra từ nhiều năm trước) gặp nhiều khó khăn do thiếu hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, bản đồ qua các thời kỳ có biến động; đối với các trường hợp vi phạm xảy ra trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, người sử dụng đất sau khi có hành vi vi phạm đã chuyển nhượng trao tay cho người khác, dẫn đến khó khăn trong việc xác định đối tượng có hành vi vi phạm, việc xử lý đối với người người đang sử dụng đất vi phạm khó khả thi, là nguyên nhân dẫn đến các khiếu kiện kéo dài.

Điểm mới của Nghị định 123/2024/NĐ-CP về xử phạt hành chính lĩnh vực đất đai
Vướng mắc của Nghị định 123/2024/NĐ-CP về xử phạt hành chính lĩnh vực đất đai

3. Xác định số lợi bất hợp pháp

 Việc tính toán số lợi bất hợp pháp thu được gặp nhiều vướng mắc do không xác định chính xác thời điểm vi phạm (nhiều trường hợp chỉ xác định được năm, không xác định được ngày, tháng); việc xác định nộp số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm đã xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thời gian xác định số lợi bất hợp pháp phải nộp được tính từ khi Nghị định có quy định hành vi vi phạm phải nộp số lợi bất hợp pháp có hiệu lực thi hành hoặc tính từ ngày xảy ra vi phạm nếu vi phạm xảy ra sau ngày Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về đất đai đầu tiên có quy định phải nộp số lợi bất hợp pháp đã có hiệu lực.

Cách tính số lợi bất hợp pháp theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP
Xác định số lợi bất hợp pháp trong lĩnh vực đất đai

Việc tính số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm được thực hiện theo Nghị định này.” Theo Điều 6 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP, quy định việc xác định số lợi bất hợp pháp, công thức tính số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm tỷ lệ thuận với số năm vi phạm. Tuy nhiên, số năm vi phạm được xác định từ thời điểm có hành vi vi phạm (lấn đất, chiếm đất, tự ý chuyển mục đích,..) đến thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính. Như vậy đối với những hành vi vi phạm xảy ra trước ngày “Nghị định có quy định hành vi vi phạm phải nộp số lợi bất hợp pháp có hiệu lực thi hành” thì cách tính số lợi bất hợp pháp theo Điều 6 có mâu thuẫn với khoản 2 Điều 34 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP.

4.  Về đối tượng vi phạm và tổ chức cưỡng chế:

Một số trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm chuyển quyền, gây khó khăn trong việc xác định chủ thể bị lập biên bản, ban hành quyết định xử phạt hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; một bộ phận đối tượng vi phạm chưa nghiêm túc chấp hành quyết định xử phạt, đặc biệt là nghĩa vụ nộp lại số lợi bất hợp pháp, ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành pháp luật; nhiều công trình vi phạm tồn tại từ trước thời điểm sáp nhập đơn vị hành chính, hồ sơ pháp lý không đầy đủ, gây khó khăn trong rà soát, xác minh và xử lý; công tác tổ chức cưỡng chế đòi hỏi nhiều nhân lực, thời gian, kinh phí; trong khi nguồn lực cấp cơ sở còn hạn chế. Trên thực tế, có nhiều trường hợp ngân sách nhà nước phải chi trả chi phí cưỡng chế nhưng không thu hồi được từ người vi phạm; một số trường hợp không hợp tác, gây cản trở, không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra, biện pháp xử lý theo quy định thấp.

5. Đối với hành vi lấn đất hoặc chiếm đất:

Nghị định chưa quy định, giải thích cụ thể một số khái niệm như “lấn đất”, “chiếm đất”,… dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các địa phương, đơn vị, tiềm ẩn nguy cơ áp dụng không đúng quy định pháp luật; biện pháp “buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất”, trong khi không quy định rõ “buộc trả lại đất đã lấn, chiếm” như trước đây, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thi hành; mức phạt tiền rất cao cho hành vi lấn đất, chiếm đất nhưng việc áp dụng các mức phạt này cần căn cứ vào quy định của Luật Đất đai 2024 về phân loại đất, quy hoạch sử dụng đất, dẫn đến nhiều trường hợp không rõ ràng khó xác định đúng hành vi và  mức phạt.

Xác định Số lợi bất hợp pháp khi lấn chiếm đất
Quy định về lấn, chiếm đất chưa sử dụng

6. Đối với hành vi sử dụng đất sai mục đích:

Biện pháp khắc phục hậu quả: Khó khăn trong việc xử lý các trường hợp vi phạm xảy ra sau ngày 01/7/2014, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng, nhưng vẫn phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, dẫn tới người vi phạm không chấp hành, gây lãng phí và tốn kém tiền của người dân và nguồn lực đất đai; người vi phạm không tự nguyện chấp hành với lý do không phải là chủ sử dụng đất; chủ sử dụng đất không trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm, không hợp tác trong việc khắc phục hậu quả; chưa có cơ chế xử lý tại chỗ, xử lý ngay đối với một số hành vi vi phạm phổ biến như tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, xây dựng công trình trái phép trên đất nông nghiệp…, dẫn đến tình trạng tiếp tục phát sinh vi phạm, kéo dài trong thời gian xác minh hồ sơ; việc sử dụng đất không đúng mục đích đối với loại đất được xác định có giá đất trong bảng giá đất cao hơn loại đất vi phạm chưa có chế tài xử lý vi phạm hành chính; việc tính toán chính xác số lợi kinh tế thu được từ việc sử dụng đất sai mục đích, đòi hỏi quy định cụ thể hơn về phương pháp tính toán; việc xác định diện tích vi phạm: Rất phức tạp trong việc đo đạc, xác định chính xác ranh giới và diện tích đất vi phạm, đặc biệt khi người vi phạm không hợp tác hoặc không cung cấp đầy đủ thông tin.

7. Một số vướng mắc khác

– Đối với hành vi hủy hoại đất: Việc áp dụng biện pháp “buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất” còn nhiều vướng mắc trong trường hợp đất đã có biến động lớn, bị thay đổi kết cấu, bề mặt từ nhiều năm trước hoặc không xác định rõ nguồn gốc, loại đất, hồ sơ địa chính không đầy đủ, gây khó khăn cho cơ quan xử lý và người dân trong quá trình thực hiện; ranh giới giữa các hành vi chưa rõ ràng, như san gạt mặt bằng.

– Đối với hành vi “cản trở, gây khó khăn” chưa được định lượng, thiếu tiêu chí xác định mức độ vi phạm, dễ dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất và khó phân biệt hành vi vi phạm hành chính với tranh chấp dân sự về ranh giới, lối đi, gây lúng túng trong xử lý.

– Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, biện pháp buộc đăng ký biến động gặp khó khăn khi người vi phạm không tự nguyện cung cấp hồ sơ gốc, và quy định về cưỡng chế chưa rõ ràng.

Rubi

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *