Vướng mắc của Luật Tổ chức chính quyền địa phương cần sửa đổi

Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc một số vướng mắc, bất cập của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019, cần phải sớm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn và các văn bản pháp luật khác.

1. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương

– Hiện nay, vẫn còn một số nhiệm vụ cả cấp tỉnh, huyện hoặc cả cấp huyện, xã cùng thực hiện nhưng chưa rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp như quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn… trong khi đó, việc sử dụng thuật ngữ “biện pháp” còn mang tính chất định tính, khó xác định, nhiều cách hiểu khác nhau.

Luat to chuc chinh quyen dia phuong 2019
Vướng mắc của Luật Tổ chức chính quyền địa phương cần sửa đổi

Ngoài ra, vấn đề phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành trung ương với chính quyền địa phương trên một số ngành, lĩnh vực còn chưa quy định rõ, thiếu đồng bộ, chưa cụ thể tới từng đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và khả năng quản lý, điều hành của từng cấp, từng ngành gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Đề nghị cấp thẩm quyền xem xét hướng dẫn hoặc luật hóa bằng các quy định cụ thể nhằm tạo thuận lợi cho các địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện.

– Bổ sung nội dung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND các cấp; trong đó có thẩm quyền giải quyết các vấn đề phát sinh giữa 02 kỳ họp của HĐND, nhất là các nội dung liên quan đến chủ trương đầu tư, quản lý đất đai tài chính, các vấn đề cấp bách phát sinh; quy định cụ thể cách thức, trình tự thực hiện nhiệm vụ được HĐND ủy quyền giải quyết giữa hai kỳ họp và trách nhiệm của Thường trực HĐND khi quyết định các vấn đề đó… tạo cơ sở pháp lý cần thiết để Thường trực HĐND tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của UBND và các cấp, các ngành trong tỉnh, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội chung của địa phương.

– Tại khoản 3, khoản 4 Điều 83 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và khoản 26 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định: HĐND bầu Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND, Chủ tịch UBND theo giới thiệu của Chủ tịch HĐND; bầu Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND theo giới thiệu của Chủ tịch UBND. Nhưng chưa quy định cụ thể về người có thẩm quyền giới thiệu nhân sự để HĐND bầu Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND, Chủ tịch UBND trong trường hợp khuyết Chủ tịch HĐND; bầu Phó chủ tịch UBND và thành viên UBND trong trường hợp khuyết Chủ tịch UBND.

Đề nghị bổ sung và quy định rõ “người có thẩm quyền giới thiệu các chức danh để HĐND tỉnh bầu trong trường hợp khuyết Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND” để có cơ sở cho các địa phương thực hiện việc kiện toàn đội ngũ lãnh đạo HĐND, UBND.

– Hiện nay, Quy định số 80-QĐ/TW ngày 18/8/2022 của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã đẩy mạnh việc phân cấp quản lý cán bộ về cho địa phương. Theo đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có thẩm quyền quản lý và thống nhất chủ trương để UBND tỉnh trình HĐND tỉnh bầu chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh mà không phải thực hiện quy trình xin ý  kiến cơ quan cấp trên trước khi bầu (trừ Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh).

Hồ sơ phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND
Hồ sơ phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND

Do đó, để cắt giảm thủ tục hành chính, đảm bảo sự thống nhất trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước, đề nghị sửa đổi quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản có liên quan theo hướng “Chủ tịch UBND tỉnh trình HĐND tỉnh bầu Phó Chủ tịch UBND tỉnh và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nhân sự sau khi bầu, không thực hiện quy trình đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh”.

– Các quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương chưa có quy định chế độ làm việc của Thường trực HĐND, Ban HĐND. Do vậy cần bổ sung và quy định rõ “Thường trực HĐND, Ban của HĐND làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số”.

– Sửa đổi, bổ sung: Khoản 1 Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019) và khoản 7 Điều 22 Luật Tổ chức chính quyền địa phương liên quan đến các quy định ủy quyền để tạo tính thống nhất trong cùng 01 văn bản quy phạm pháp luật.

– Bổ sung vào Điều 32, 60 và 67 quy định về cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã nội dung “HĐND cấp xã được thành lập các Tổ đại biểu HĐND xã” nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức hoạt động của HĐND ở cấp xã.

2. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể của các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và pháp luật có liên quan

– Đề nghị xem xét bổ sung quy định thủ tục bầu Ủy viên UBND cấp huyện, cấp tỉnh; trong đó quy định rõ “căn cứ kết quả bầu Ủy viên UBND, cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND” nhằm bảo đảm thực quyền và nâng cao hiệu quả giám sát, kiểm soát quyền lực HĐND. Đồng thời, sửa đổi quy định miễn nhiệm các chức danh do HĐND bầu trong trường hợp nghỉ hưu.

– Qua tổng hợp báo cáo của các địa phương cho thấy: Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của mỗi đại biểu dân cử là giám sát việc tổ chức thực thi chính sách, pháp luật của UBND, các cơ quan, đơn vị thuộc UBND và cá nhân Chủ tịch UBND cùng cấp; UBND là cơ quan chấp hành của HĐND nhưng Chủ tịch UBND lại là người có thẩm quyền ký quyết định khen thưởng đối với đại biểu HĐND cùng cấp. Thẩm quyền này tuy bảo đảm sự thống nhất với nguyên tắc quản lý công tác khen thưởng, chức năng, nhiệm vụ UBND nhưng theo ý kiến của HĐND các cấp thì quy định như vậy là bất hợp lý.

Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 (có hiệu lực ngày 01/01/2024) vẫn chưa phân định thẩm quyền của HĐND, Chủ tịch HĐND các cấp trong việc khen thưởng đại biểu HĐND, các cơ quan của HĐND (hằng năm, đột xuất và cuối nhiệm kỳ) và xây dựng tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu để làm căn cứ xét khen thưởng nhằm đảm bảo tính độc lập với thẩm quyền của UBND. Đề nghị cấp thẩm quyền sửa đổi, bổ sung quy định cho phù hợp hoặc hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện thống nhất đối với nội dung này.

Rubi

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *