Tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam – thực trạng và nguyên nhân

Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc về tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và nguyên nhân của bạo lực gia đình. Bài viết được trích từ dự thảo Báo cáo Kết quả 12 năm thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch.

1. Tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam
Hiện nay, việc tổng hợp thông tin về bạo lực gia đình (BLGĐ) được thực hiện theo ngành dọc. Mỗi cơ quan, tổ chức có cách tổng hợp theo đối tượng và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan/tổ chức nhưng chưa có sự chia sẻ số liệu giữa các ngành dẫn đến sự rời rạc và không thể khái quát được số liệu chung cho tình hình BLGĐ ở nước ta hiện nay. Ví dụ, các cơ quan như: Tòa án, Công an, Y tế, Ủy ban nhân dân (thông qua ngành VHTTDL), Tư pháp cùng tổng hợp, báo cáo. Song, có những vụ bạo lực chỉ có 1 hoặc 2 hoặc 3 trong số 5 cơ quan nêu trên tổng hợp. Thực trạng này dẫn đến sự trùng lặp số liệu rất lớn giữa các ngành. Bên cạnh đó, các số liệu của 5 cơ quan nêu trên có thể chỉ phản ánh được về bề nổi. Tổng hợp số liệu từ các cuộc điều tra về BLGĐ trong những năm gần đây cho thấy, có 30% số hộ gia đình tham gia trả lời cho biết trong 12 tháng gia đình họ đã xảy ra ít nhất một hành vi
được xác định là hành vi BLGĐ (theo quy định của Luật PCBLGĐ).

Thực trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam
Thực trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam

Tổng hợp báo cáo số liệu về vụ BLGĐ từ các Sở VHTTDL/Văn hóa và Thể thao từ năm 2009 đến 2017 cho thấy, tổng số vụ BLGĐ các địa phương đã phát hiện, tổng hợp báo cáo là 292.268 vụ, tính trung bình mỗi năm tổng hợp được 36.534 vụ bạo lực. Tuy nhiên, xem xét theo số vụ diễn biến qua các năm thì năm sau thấp hơn năm trước. Nếu như số vụ BLGĐ được tổng hợp năm 2009 là 53.206 vụ thì vào năm 2019 chỉ còn8.176 vụ

Tổng hợp số liệu do Tòa án nhân dân các cấp thực hiện từ ngày 01/7/2008 đến ngày 31/7/2018, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 1.422.067 vụ án ly hôn, đã giải quyết 1.384.660 vụ, đạt tỷ lệ 97,4%, còn lại 37.407 vụ đang trong quá trình giải quyết. Trong số 1.384.660 vụ án ly hôn Tòa án đã giải quyết, có 1.060.767 vụ xuất phát từ nguyên nhân BLGĐ như: bị đánh đập, ngược đãi; vợ hoặc chồng nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc; ngoại tình (chiếm 76,6% các vụ án ly hôn).
Báo cáo của ngành Tư pháp cho thấy năm 2014 tiếp nhận hòa giải 31.528 vụ việc BLGĐ; năm 2015 là 33.966 vụ; (năm 2016 và 2017 số liệu cung cấp   không rõ nên không tách được số vụ hòa giải do BLGĐ). So sánh số liệu của 2 cơ quan trong 2 năm 2014 và 2015 cho thấy diễn biến trái ngược nhau, thiếu thống nhất giữa các cơ quan chức năng dẫn đến khó khăn trong thu thập và báo cáo số liệu về tình hình Bạo lực gia đình.
2. Nguyên nhân dẫn đến bạo lực
Theo kết quả điều tra, tổng hợp của Bộ VHTTDL từ 63 tỉnh/thành, có 14 nguyên nhân chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) dẫn đến BLGĐ gồm:

1) Nhận thức về pháp luật của người dân còn hạn chế, bao che, không khai báo, sợ chê cười;

2) Nhận thức pháp luật của cán bộ, chính quyền, đoàn thể còn hạn chế;

3) Kinh tế khó khăn;

4) Tệ nạn xã hội (rượu chè, cờ bạc, nghiện ngập);

(Tải slide bài giảng Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia)

5) Tư tưởng gia trưởng, bất bình đẳng giới;

6) Người dân thiếu kỹ năng ứng xử trong gia đình;

7) Người dân ít hợp tác, dĩ hoà vi quý;

8) Thiếu cán bộ chuyên trách cấp xã/phường, thiếu cộng tác viên; 9) Cán bộ thiếu kỹ năng tư vấn, hoà giải, truyền thông;

10) Các cấp, các ngành chưa phối hợp hiệu quả;

11) Cộng đồng, chính quyền, đoàn thể thiếu quan tâm, coi BLGĐ là chuyện riêng tư, chỉ can thiệp khi gây ra hậu quả nghiêm trọng;

12) Kinh phí cho hoạt động PCBLGĐ còn hạn chế, chế độ cho người hoạt động PCBLGĐ chưa thoả đáng;

13) Chế tài chưa mạnh, chưa xử lý nghiêm, chưa hợp lý, thiên về hòa giải, phê bình, góp ý;

(Những hạn chế, bất cập của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình)

14) Một số văn bản dưới luật chưa phù hợp với thực tiễn. Trong số những nguyên nhân nêu trên, Bộ VHTTDL lựa chọn 3 nguyên nhân cơ bản nhất theo vùng miền để làm rõ và so sánh cho kết quả như sau:
Nguyên nhân BLGĐ theo nhận định của địa phương

Vùng miềnNguyên nhân
Trung du
và miền núi
phía Bắc
1. Nhận thức về pháp luật của người dân còn hạn chế, bao che, không khai báo, sợ chê cười.
2. Tư tưởng gia trưởng, bất bình đẳng giới.
3. Kinh tế khó khăn và tệ nạn xã hội.
Đồng bằng
sông Hồng
1. Tư tưởng gia trưởng, bất bình đẳng giới.
2. Kinh phí cho hoạt động PCBLGĐ còn hạn chế, chế độ cho người hoạt động PCBLGĐ chưa thoả đáng;
3. Cán bộ thiếu kỹ năng tư vấn, hoà giải, truyền thông;
Bắc Trung
Bộ và
Duyên hải
miền Trung
1. Nhận thức về pháp luật của người dân còn hạn chế, bao che, không khai báo, sợ chê cười.
2.Cộng đồng, chính quyền, đoàn thể thiếu quan tâm, coi BLGĐ là chuyện riêng tư, chỉ can thiệp khi gây ra hậu quả nghiêm trọng.
3. Kinh tế khó khăn và tệ nạn xã hội.
Vùng Tây
Nguyên
1.Kinh tế khó khăn.
2. Nhận thức về pháp luật của người dân còn hạn chế, bao che, không khai báo, sợ chê cười.
3. Tệ nạn xã hội.
Đông Nam
Bộ
1.Kinh tế khó khăn và tệ nạn xã hội.
2.Nhận thức về pháp luật của người dân còn hạn chế, tư tưởng gia trưởng.
3.Cán bộ thiếu kỹ năng tư vấn, hòa giải, truyền thông
Đồng bằng
sông Cửu
Long
1.Kinh tế khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế;
2.Tệ nạn xã hội; tư tưởng gia trưởng;
3. Cộng đồng, chính quyền, đoàn thể thiếu quan tâm, coi BLGĐ là chuyện riêng tư, chỉ can thiệp khi gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *