Nhà đất là tài sản chung của vợ chồng-một bên có quyền chuyển nhượng không?

Đối với trường hợp bất động sản là tài sản chung của vợ, chồng  nhưng chỉ có một bên vợ hoặc chồng  tham gia ký kết hợp đồng tặng, cho, chuyển nhượng (mua bán) thế chấp …bên còn lại không tham gia ký kết, không đồng ý với hợp đồng đó; hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng (mua bán), thế chấp không vi phạm  các điều kiện có hiệu lực khác. Hợp đồng đó vô hiệu toàn bộ hay vô hiệu một phần.
Trả lời:

Theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định:  “Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến phần còn lại  của giao dịch”

Khoản 1,2 Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015  quy định:

“1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất  có thể phân chia.

2. Vợ, chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản

chuyển nhượng quyền sử dụng đất chung của vợ chồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất chung của vợ chồng

chung”  

Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân gia đình năm 2024  quy định:

“1. Việc chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

..”

Theo các quy định trên thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng là bất động sản phải do hai vợ chồng thỏa thuận  hoặc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Do đó, trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận định đoạt tài sản chung  hoặc không có văn bản thỏa thuận phân chia tài sản, chỉ có một bên vợ hoặc chồng tham gia ký kết hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng, thế chấp…bên còn lại không tham gia ký kết, không đồng ý thì hợp đồng đó vô hiệu toàn bộ.

Tuy nhiên, trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng  mà chỉ có một người  đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng  đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận , quản lý và sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý  với việc chuyển nhượng nhà đất  (theo án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

 Theo Công văn 196/TANDTC-PC về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử

Rubi

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *