So sánh những điểm mới của Luật Đất đai 2024 và Luật Đất đai 2013-phần 9

Sáng 18-1-2024, với 432/477 đại biểu có mặt (chiếm 87,63% tổng số đại biểu Quốc hội) tán thành đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai sửa đổi. Bên cạnh đó, có 20 đại biểu không tán thành và 25 đại biểu không biểu quyết.Luật Đất đai năm 2024, có hiệu lực từ 01/01/2025.

Trangtinphapluat.com biên soạn, giới thiệu tới bạn đọc những điểm mới của Luật Đất đai năm 2024 so với Luật Đất đai năm 2013.

1. Nới lỏng quy định về cấp giấy chứng nhận khi giao đất không đúng thẩm quyền

+ Quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền được Chính phủ quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định 01/2017/NĐ-CP, theo đó cấp giấy chứng nhận đối với các trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 ; từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2014 ổn định, không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch. Các trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền từ sau ngày 01/7/2014 trở về sau không được cấp giấy chứng nhận.

+ Luật Đất đai 2014 cơ bản kế thừa quy định nêu trên, tuy nhiên bổ sung thêm một số trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như:

Trường hợp đất được giao từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và người sử dụng đất có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất thì hạn mức đất cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều 138 của Luật này;

5. Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với đất đã giao, cho thuê không đúng thẩm quyền từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;

2. Xác định diện tích đất ở khi công nhận quyền sử dụng đất

Tại Điều 141 Luật Đất đai 2014 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 137 của Luật này mà trên giấy tờ đó có thể hiện mục đích sử dụng để làm nhà ở, đất ở hoặc thổ cư thì diện tích đất ở được xác định khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:

1. Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980, người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích được xác định như sau:

a) Thửa đất có diện tích bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở mà trên giấy tờ về quyền sử dụng đất đã ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó; trường hợp diện tích đất ở thể hiện trên giấy tờ về quyền sử dụng đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở hoặc chưa ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở;

b) Thửa đất có diện tích nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở;

2. Trường hợp thửa đất được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích được xác định như sau:

a) Thửa đất có diện tích bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở mà trên giấy tờ về quyền sử dụng đất đã ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó; trường hợp diện tích đất ở thể hiện trên giấy tờ về quyền sử dụng đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở hoặc chưa ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở;

b) Thửa đất có diện tích nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở;”

Theo quy định trên thì trường hợp thửa đất hình thành trước ngày 18/12/1980 hoặc từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993 thì hạn mức đất ở trong giấy tờ lớn hơn hạn mức đất ở được công nhận thì vẫn xác định đất ở theo giấy tờ, trường hợp bằng hạn mức thì công nhận theo hạn mức; trường hợp ít hơn hạn mức hoặc chưa ghi rõ diện tích thì công nhận theo hạn mức; trường hợp diện tích nhỏ hơn hạn mức đất ở thì công nhận toàn bộ đất ở và người sử dụng đất không phải nộp tiên. Đây là quy định mới rất có lợi cho người sử dụng đất.

Ngoài ra, Luật Đất đai 2014 tại khoản 6 Điều 141 đã quy định về Việc xác định lại diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao, đất thổ cư đã được cấp giấy chứng nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 khi người sử dụng đất có nhu cầu hoặc khi Nhà nước thu hồi đất.

3. Các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 

Cơ bản Luật Đất đai 2024 kế thừa các quy định  tại Điều 19 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai Các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đồng thời sửa đổi, bổ sung thêm:

+ Đất đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp đã quá 03 năm kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất mà không thực hiện (Nghị định 43 quy định có thông báo thu hồi đất hoặc quyết định thu hồi đất và không giới hạn thời hạn nên ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người sử dụng đất trong trường hợp các dự án treo lâu năm)

+ Đất đang có tranh chấp, đang bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; quyền sử dụng đất đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật;

4. 2 trường hợp đính chính giấy chứng nhận

Luật Đất đai 2024 kế thừa Luật 2013 quy định 02 trường hợp đính chính giấy chứng nhận đã cấp, theo đó: + Có sai sót thông tin của người được cấp giấy chứng nhận so với thông tin tại thời điểm đính chính (Luật 2013 quy định có sai sót thông tin so với thời điểm cấp giấy)

+ Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được tổ chức đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận

Hoặc được thể hiện trong văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai (Đây là quy định mới của Luật 2024)

5. Thu hồi giấy chứng nhận đã cấp

Cơ bản Luật Đất đai 2024 kế thừa Luật Đất đai 2013 về các trường hợp thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp như: Trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất trên giấy chứng nhận, cấp đổi; đất cấp không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, diện tích…Tuy nhiên, Luật 2024 bổ sung thêm trường hợp thu hồi: Giấy chứng nhận đã cấp bị Tòa án có thẩm quyền tuyên hủy; Trường hợp đấu giá, giao quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo yêu cầu của Tòa án, cơ quan thi hành án mà người phải thi hành án không nộp giấy chứng nhận đã cấp.

Trường hợp đã có quyết định thu hồi mà người sử dụng đất không chấp hành thì cơ quan cấp giấy chứng nhận ban hành văn bản hủy giấy chứng nhận.

Liên hệ mail: kesitinh355@gmail.com hoặc trangtinphapluat2019@gmail.com hoặc zalo 0935634572 để tải slide bài giảng Luật Đất đai năm 2024. 

Rubi

Còn nữa

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Dịch vụ: Tư vấn pháp luật, bài giảng pháp luật, Tài liệu thi Công chức, Viên chức, thi nâng ngạch công chức... Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *