loading...
Trang chủ / HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT / Nhận cha mẹ con có buộc phải từ bỏ cha, mẹ nuôi?

Nhận cha mẹ con có buộc phải từ bỏ cha, mẹ nuôi?

Một bạn đọc đề nghị trangtinphapluat.com tư vấn trường hợp một người đã nhận mẹ nuôi (trong giấy khai sinh đã ghi rõ tên mẹ nuôi), sau đó thời gian thì tìm được mẹ đẻ. Giờ người con muốn làm thủ tục nhận cha mẹ con. Trường hợp này pháp luật có bắt buộc phải làm thủ tục chấm dứt nuôi con nuôi rồi mới làm thủ tục nhận cha mẹ con hay không?

Trangtinphapluat.com trả lời như sau (mang tính tham khảo)

loading...

1. Quy định về nhận cha mẹ con

Theo quy định tại Điều 90 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Quyền nhận cha, mẹ như sau:

Quy định về nhận cha mẹ con
Quy định về nhận cha mẹ con

– Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

– Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha.

2. Thủ tục nhận cha mẹ con

2.1. Thủ tục nhận cha mẹ con đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước

1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha mẹ con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.

2.2. Thủ tục nhận cha mẹ con  có yếu tố nước ngoài

1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thì người nước ngoài phải nộp thêm bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để chứng minh về nhân thân.

Thủ tục nhận cha mẹ con
Thủ tục nhận cha mẹ con

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức làm công tác hộ tịch xác minh, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thời gian 07 ngày liên tục, đồng thời gửi văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con niêm yết trong thời gian 07 ngày liên tục tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã.

3. Phòng Tư pháp báo cáo và đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định việc đăng ký nhận cha, mẹ, con, nếu thấy đủ điều kiện thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.

4. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt; công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng các bên ký vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục cho các bên.

Như vậy, theo Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Hộ tịch thì con có quyền nhận cha mẹ, thủ tục nhận cha mẹ con chỉ gồm tờ khai và chứng cứ chứng minh mối quan hệ cha mẹ con. Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Hộ tịch không bắt buộc trường hợp con đã được nhận làm con nuôi phải chấm dứt việc nuôi con nuôi mới được nhận lại cha mẹ đẻ.

Bên cạnh đó, theo quy định của Điều 25 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau:

1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

3. Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

4. Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này.

Theo Luật Nuôi con nuôi cũng không bắt buộc trường hợp đã nhận con nuôi mà nhận lại cha mẹ đẻ thì bắt buộc phải chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Từ những quy định trên thì trangtinphapluat cho rằng pháp luật không bắt buộc phải chấm dứt việc nuôi con nuôi rồi mới làm thủ tục nhận cha mẹ đẻ. Tuy nhiên cần lưu ý khi đã nhận con nuôi thì hệ quả pháp lý sẽ như sau (Điều 24 Luật Nuôi con nuôi)

Hệ quả pháp lý của việc cho nhận con nuôi
Hệ quả pháp lý của việc cho nhận con nuôi

1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.

Do đó, nếu đã làm thủ tục nhận lại cha mẹ đẻ thì về giấy tờ khai sinh trước đây đã để họ của con theo họ của mẹ nuôi. Giờ muốn lấy lại họ mẹ đẻ thì phải làm thủ tục thôi làm con nuôi mới đủ điều kiện chuyển từ họ mẹ nuôi sang họ mẹ đẻ, bởi vì theo điểm c Khoản 1 Điều 27 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền thay đổi họ thì “Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ”.

Thủ tục thay đổi họ của con từ họ cha mẹ nuôi sang họ cha mẹ đẻ như sau: 

Đối với công dân Việt Nam thì thực hiện tại UBND cấp xã, đối với trường hợp có yếu tố nước ngoài thì thực hiện tại UBND cấp huyện.

Theo quy định tại Điều 28 Luật Hộ tịch thì Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch như sau:

1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.

Trên đây là nội dung tư vấn về thủ tục nhận cha mẹ con trong trường hợp con đã làm con nuôi của người khác. Để được tư vấn cụ thể, chính xác bạn đọc vui lòng liên hệ qua gmail KESITINH355@GMAIL.COM.

Rubi

loading...

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Blog chia sẻ thông tin pháp luật - Tư vấn pháp luật - Quảng cáo trực tuyến. Liên hệ: kesitinh355@gmail.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *