Những vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực Hải quan

Trangtinphapluat.com giới thiệu một số tồn tại, vướng mắc của công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan để bạn đọc tham khảo.

1.Vướng mắc trong việc thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính

Một số quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính chưa được quy định một cách rõ ràng, chưa phù hợp với thực tế dẫn đến khó thực hiện. Cụ thể:

a) Về nguyên tắc xử phạt:

Vi phạm hành chính nhiều lần: Điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý VPHC quy định: “Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm”.

Quy định này chưa rõ trong trường hợp “vi phạm hành chính nhiều lần” thì có bị xử phạt về từng lần vi phạm hay chỉ xử phạt 1 lần và áp dụng tình tiết tăng nặng “vi phạm nhiều lần”?

(Thế nào là vi phạm hành chính nhiều lần?)

vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính
vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực hải quan

Về cách tính thời hạn trong xử phạt VPHC:  Điều 8 Luật Xử lý VPHC  quy định cách tính thời hạn trong xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự có những vướng mắc như sau trong quá trình thực hiện:

+ Thời hạn để ra quyết định xử phạt ngắn, khó đảm bảo được chất lượng trong việc ra quyết định xử phạt, trong khi vi phạm hành chính xảy ra liên tục hàng ngày ở sân bay, cửa khẩu, đặc biệt nếu vi phạm hành chính xảy ra ở thời điểm nghỉ lễ, tết (tết nguyên đán thường nghỉ dài ngày).

– Đề nghị bổ sung cụm từ “tổ chức” vào Điểm c khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC: “Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu được áp dụng theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính”vì hiện nay có phát sinh trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến nhưng chưa quy định về việc xác định thời hiệu.

– Về tình tiết tăng nặng: Điểm l khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý VPHC quy định: “Vi phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn”.

Việc xác định thế nào là “quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn” là khó (không có căn cứ để xác định).

– Về việc sửa đổi, huỷ bỏ, ban hành mới quyết định:

Khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý VPHC quy định: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền”.Tuy nhiên, hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục thực hiện việc bổ sung, huỷ bỏ, ban hành quyết định mới để tránh khiếu nại, khởi kiến về thủ tục thực hiện.

(Cấp phó có được hủy bỏ quyết định xử phạt của cấp trưởng không?)

b) Các hình thức xử phạt:

Đề nghị bỏ cụm từ “có thể” trong quy định tại Khoản 4 Điều 23 Luật XLVPHC Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạtđể đảm tính thống nhất khi áp dụng mức phạt, đảm bảo thực hiện quy định về xác định tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng vì cụm từ “có thể” không mang tính bắt buộc áp dụng.

Mức phạt tiền tối đa: Khoản 3 Điều 24 Luật Xử lý VPHC quy định: “Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực thuế …theo quy định tại các luật tương ứng”.

Luật Quản lý thuế quy định việc xử phạt VPHC đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế là từ 1-3 lần số tiền thuế trốn, gian lận và không phân biệt mức phạt đối với tổ chức và cá nhân (áp dụng chung cho tổ chức và cá nhân). Tuy nhiên, nếu thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế nêu trên thì không thống nhất với quy định tại điểm e khoản 1 Điều 3 của Luật Xử lý VPHC (mức xử phạt đối với cá nhân bằng ½ mức xử phạt của tổ chức).

Điều 26 Luật Xử lý VPHC quy định: “Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc…được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức”.

Quy định về tịch thu tang vật vi phạm hành chính
Quy định về tịch thu tang vật vi phạm hành chính

Việc xác định lỗi cố ý để tịch thu tang vật vi phạm đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng là rất khó, dễ gây khiếu nại, khởi kiện.

c) Về thẩm quyền xử phạt:

– Khoản 1 Điều 54 Luật XLVPHC quy định: “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại của Luật này có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính”. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính bao gồm áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả. Trên thực tế còn có các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, trong cùng một vụ việc nếu đã giao quyền cho cấp phó thì giao quyền thực hiện toàn bộ các nội dung liên quan. Do đó, đề nghị sửa Khoản 1 Điều 54 Luật XLVPHC như sau: “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại của Luật này có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính”.

– Bổ sung vào khoản 2 Điều 58 như sau: “Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản, trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của ít nhất một người chứng kiến.” Trường hợp này có phát sinh vướng mắc và Bộ Tư pháp đã có Công văn số 2659/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 10/8/2016 để hướng dẫn trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính.

(Hướng dẫn lập biên bản vi phạm hành chính chuẩn nhất)

– Việc quy định thẩm quyền tịch thu tang vật bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền gây rất nhiều khó khăn cho quá trình thực hiện việc xử phạt VPHC đối với những vụ việc vượt quá thẩm quyền xử phạt của cấp Cục trưởng Cục HQ, Cục trưởng Cục ĐTCBL, cụ thể:

Thực tế, trong lĩnh vực hải quan những vụ việc vi phạm hành chính về hải quan đều được kiểm tra, phát hiện tại các đơn vị hải quan địa phương (Đội/Chi cục/Cục…). Vì vậy, nếu chuyển về Tổng cục để xem xét xử lý sẽ phát sinh những vướng mắc cụ thể như sau:

+ Luật Xử lý VPHC quy định thời gian ra quyết định xử phạt là 7 ngày (đối với những vụ việc đơn giản) và một trong những nguyên tắc của xử phạt vi phạm hành chính là phải xử lý nhanh chóng, kịp thời. Việc chuyển hồ sơ và tang vật từ các đơn vị Hải quan địa phương lên Tổng cục (đối với trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền của Tổng cục trưởng TCHQ) sẽ cần một khoảng thời gian nhất định nên sẽ ảnh hưởng đến tiến độ, thời hạn xử lý vi phạm hành chính… Từ đó, có thể ảnh hưởng đến việc giải phóng, thông quan hàng hóa, doanh nghiệp phản ứng vì phát sinh những thiệt hại về thời gian, chi phí….

+ Theo quy định tại Điều 59 Luật XLVPHC thì trước khi ra quyết định xử phạt, trường hợp cần thiết người có thẩm quyền phải tiến hành xác minh, cho doanh nghiệp được giải trình. Đối với những trường hợp ở xa Tổng cục thì việc mời doanh nghiệp đến làm việc sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp, tăng chi phí và thời gian đi lại của doanh nghiệp.

+ Trường hợp vụ việc phức tạp, phải điều tra, xác minh hoặc trao đổi với cơ quan chức năng có liên quan trước khi ra quyết định xử phạt thì phải xin gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt. Nếu vụ việc do Tổng cục trưởng ra quyết định xử phạt, việc gia hạn thời hạn phải trình Bộ quyết định, làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý, điều hành chung của Bộ vì phải giải quyết nhiều sự vụ có tính chất kỹ thuật.

+ Vụ việc bị dồn về Tổng cục, nếu không xử lý kịp, ảnh hưởng thời gian, chất lượng trong công tác xử lý vi phạm hành chính. Mặt khác, sẽ phát sinh những hạn chế, vướng mắc về công tác phối hợp giữa các ngành chức năng để xử lý tang vật (việc này nếu thực hiện ở địa phương cấp tỉnh sẽ thuận lợi hơn).

– Chưa có hướng dẫn xác định thẩm quyền tịch thu tang vật vi phạm trong trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính (xác định thẩm quyền tịch thu theo thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân hay đối với tổ chức?).

– Trường hợp vụ việc vừa tịch thu tang vật trên 100 triệu đồng vừa đồng thời bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế th́ thẩm quyền vừa thuộc Cục trưởng Cục Hải quan vừa thuộc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố thì hiện nay chưa có hướng dẫn.

d) Thủ tục xử phạt:

– Về việc xác định trị giá tang vật:

+ Quy định như Điều 60 Luật Xử lý VPHC khó thực hiện trong trường hợp tang vật vi phạm là hàng cấm (pháo nổ, đồ chơi bạo lực…), hàng thuộc danh mục Cites (ngà voi, sừng tê giác…) do các mặt hàng này không phổ biến trên thị trường để Hội đồng định giá có thể kham khảo giá.

+ Thời hạn tạm giữ tang vật để định giá quá ngắn (24h), không đảm bảo thời gian để định giá.

Một số quy định về giải trình, chuyển quyết định xử phạt để thi hành chưa được hướng dẫn cụ thể để thuận lợi cho quá trình thực hiện như: quá thời hạn quy định tại Điều 61 Luật Xử lý VPHC mà đối tượng vi phạm mới có văn bản giải trình thì có chấp nhận văn bản giải trình này không? Việc ghi cơ quan tiếp nhận giải trình như quy định tại Điều 58 Luật Xử lý VPHC là khó thực hiện vì tại thời điểm lập biên bản VPHC thì chưa xác định được trị giá tang vật vi phạm nên chưa xác định được người có thẩm quyền xử phạt; việc chuyển hồ sơ, giấy tờ liên quan; tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (nếu có) cho cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để thi hành theo quy định của khoản 1, khoản 2 Điều 71 Luật Xử lý VPHC là chuyển hồ sơ gốc hay bản photocopy? chi phí vận chuyển hồ sơ, tang vật trong trường hợp này thực hiện như thế nào? Trường hợp cơ quan tiếp nhận không thi hành được quyết định xử phạt thì giải quyết tiếp như thế nào?

Quy định Khoản 2 Điều 65 Luật XLVPHC Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng có thể ra quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này có những vướng mắc như sau:

+ Chưa có quy định danh mục hàng hóa cấm lưu hành để áp dụng quy định khoản 2 Điều 65;

+ Cụm từ “có thể” không mang tính bắt buộc áp dụng;

+ Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước có hai cách hiểu: (1) chỉ áp dụng đối với tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành; (2) áp dụng với tất cả các loại tang vật vi phạm hành chính. Trường hợp, hiểu theo cách (1) quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước và tiêu hủy chỉ áp dụng đối với tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành thì chưa có quy định đối với trường hợp tang vật vi phạm hành chính không thuộc loại cấm lưu hành.

Do đó, đề nghị bỏ cụm từ “có thể”; đề nghị bổ sung quy định rõ hoặc giao quy định “danh mục hàng hóa cấm lưu hành”, quy định rõ quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước áp dụng đối với loại tang vật nào.

– Công bố công khai việc xử phạt VPHC theo quy định:

Khoản 1 Điều 72 Luật Xử lý VPHC quy định: “Trường hợp vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; dược; khám bệnh, chữa bệnh; lao động; xây dựng; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo vệ môi trường; thuế; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; đo lường; sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xă hội thì cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm công bố công khai về việc xử phạt”.

Cong khai vi pham hanh chinh
Công bố công khai vi phạm hành chính

Tuy nhiên, chưa có văn bản hướng dẫn xác định thế nào là “gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội”dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện quy định này; chưa hướng dẫn hình thức công bố, công khai và kinh phí bảo đảm việc thực hiện công bố, công khai.

(Trường hợp nào được công khai quyết định xử phạt vi phạm hành chính)

đ) Áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính:

Khoản 8 Điều 125 quy định: “Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày”.

Việc thực hiện quy định trên có vướng mắc như sau: Người ra quyết định tạm giữ tang vật không đồng thời là người đang giải quyết vụ việc (vì vụ việc vượt thẩm quyền, đã chuyển lên cấp trên để giải quyết). Vậy trường hợp này ai là người báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình để xin gia hạn? Hình thức văn bản gia hạn là bằng công văn hay quyết định ?

– Về thẩm quyền tạm giữ tang vật:

Khoản 3 Điều 125 Luật Xử lý quy định: “Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định tại Chương II Phần thứ hai của Luật này thì có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính”.

Theo đó, chỉ có cấp trưởng (Chi cục trưởng, Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục ĐTCBL…) được quyền tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC.  Luật Xử lý không có quy định cho phép cấp trưởng giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền tạm giữ thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính như việc giao quyền trong xử phạt VPHC và giao quyền trong việc tạm giữ người. Do vậy, gây khó khăn cho việc thực hiện biện pháp ngăn chặn tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC trong trường hợp cấp trưởng đi vắng. 

2. Tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện Nghị định 45/2016/NĐ-CP:

a) Về căn cứ pháp lý

Nghị định 45/2016/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở quy định của Luật Hải quan năm 2001 và Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005, Luật Xử lý VPHC, Luật Quản lý thuế năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế năm 2012, Nghị định 154/2005/NĐ-CP, Thông tư 128/2013/TT-BTC và đã quy định tương đối bao quát, đầy đủ các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hải quan. Luật Hải quan năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành có nhiều nội dung quy định mới về thủ tục hải quan như: hồ sơ hải quan, khai hải quan, thời hạn làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan (đặc biệt đối với hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu); quy định quyền hạn và nghĩa vụ của người khai hải quan, công chức hải quan; trách nhiệm của cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan trong hoạt động hải quan…Các quy định này cần thiết phải có chế tài để đảm bảo hiệu quả thi hành trong thực tế quản lý nhà nước về hải quan. Do đó, ngày 26/5/2016 Chính phủ ban hành Nghị định 45/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 127/2013/NĐ-CP.

Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Quản lý thuế số 21/2013/QH12 đã được thay thế bằng Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14. Ngoài ra, một số văn bản khác quy định về chính sách thuế, chính sách mặt hàng, thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (đặc biệt là hàng gia công, sản xuất xuất khẩu, hàng hành lý, quà biếu, quà tặng..) có sự thay đổi tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13, Luật Quản lý Ngoại thương, Nghị định 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016, Nghị định 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018. Do vậy, cần thiết phải có Nghị định mới thay thế cho Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về hải quan. Cụ thể như sau:

b) Thiếu chế tài xử phạt, cụ thể:

– Thực tế, thời gian vừa qua đã phát sinh một số hành vi vi phạm liên quan đến việc ghi nhãn hàng hóa và gian lận xuất xứ hàng hóa; nhập khẩu hàng hóa có hình ảnh và nội dung thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia và các nội dung khác gây ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội, quan hệ ngoại giao của Việt Nam nhưng chưa có chế tài xử phạt (quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa được quy định tại Điều 31 Nghị định 119/2017/NĐ-CP về xử phạt VPHC trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng hàng hóa, sản phẩm không áp dụng được với hàng hóa chưa thông quan). Theo đó, hành vi vi phạm đã phát sinh trên thực tế nhưng chưa được quy định tại Nghị định xử phạt VPHC (hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu mà không có hạn ngạch; hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu mà không có văn bản chỉ định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định; chuyển khẩu hàng hóa thuộc danh mục cấm, tạm ngừng kinh doanh chuyển khẩu; xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập – tái xuất hàng hóa có chứa nội dung, hình ảnh thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia…).

– Hành vi vi phạm đã được quy định trong các Nghị định xử phạt trong các lĩnh vực khác nhưng chưa được quy định thẩm quyền xử phạt cho cơ quan hải quan (hành vi vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu).

c)  Sửa đổi, bổ sung một số hành vi liên quan đến việc khai sai thuế, trốn thuế cho phù hợp với quy định tại Luật Quản lý thuế năm 2019:

– Khoản 2 Điều 142 Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định:

“2. Người nộp thuế khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều 143 của Luật này thì ngoài việc phải khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp, người nộp thuế còn bị xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế trong trường hợp sau đây:

a) Người nộp thuế tự phát hiện và khai bổ sung sau thời điểm cơ quan hải quan thông báo việc kiểm tra trực tiếp hồ sơ hải quan đối với hàng hóa đang làm thủ tục hải quan hoặc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan và trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra đối với hàng hóa đã được thông quan;

b) Cơ quan hải quan phát hiện trong quá trình làm thủ tục hải quan; phát hiện khi thanh tra đối với hàng hóa đã thông quan, kiểm tra sau thông quan và cá nhân, tổ chức vi phạm đã tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định;

c) Trường hợp không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này và cá nhân, tổ chức vi phạm đã tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp.”

Theo quy định tại Điều 138 Luật Quản lý thuế thì hành vi tại điểm a nêu trên phạt 10% tính trên số tiền thuế khai thiếu, các hành vi nêu tại điểm b,c phạt 20% tính trên số tiền thuế khai thiếu.

Hiện hành các hành vi khai sai thuế (bị phạt 20% số tiền thuế thiếu) đang được quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 127/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 45/2016/NĐ-CP) thì chỉ có hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 có gắn với điều kiện  cá nhân, tổ chức vi phạm đã tự nguyện nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định trước thời điểm lập biên bản vi phạm.

Do đó, cần thực hiện rà soát các quy định về khai sai thuế cho phù hợp với quy định tại Điều 142 Luật Quản lý Thuế.

– Điều 143 quy định về hành vi trốn thuế, theo đó dự thảo cần rà soát sửa đổi, bổ sung các hành vi trốn thuế cho phù hợp quy định của Luật.

d) Về vấn đề cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan

Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo Nghị định166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Theo đó, cơ bản 58 Nghị định xử phạt VPHC trong các lĩnh vực do Chính phủ ban hành không có nội dung về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (trừ Nghị định xử phạt VPHC trong lĩnh vực hải quan và Nghị định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thuế trên cơ sở quy định của Luật Quản lý thuế).

Do đó, nội dung về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan là một nội dung độc lập trong cả Nghị định 127/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 45/2016/NĐ-CP) cần đưa nội dung này vào Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế sẽ phù hợp hơn và thống nhất về văn bản quy định chi tiết Luật Quản lý thuế.

(mẫu kế hoạch cưỡng chế quyết định xử phạt vi phạm hành chính)

đ) Tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện Thông tư 155/2016/TT-BTC ngày 20/10/2016 của Bộ Tài chính

Về mẫu ấn chỉ: cần được sửa đổi, bố sung cho phù hợp với các mẫu ấn chỉ ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Rubi

Tác giả Nguyễn Quốc Sử

Chuyên Tư vấn về xử lý vi phạm hành chính.- Quảng cáo trực tuyến: Textlink, bài viết quảng cáo...Nhận làm bài giảng powerpoint tuyên truyền Liên hệ: kesitinh355@gmail.com. Điện thoại, Zalo: 0935634572

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *